Amadeus: thời gian và cát bụi (3)

Có lẽ dạo diễn Milos Forman đã hơi quá mạnh tay khi dùng nghệ thuật tương phản tính cách để làm nổi bật Mozart trong khi Salieri lại thật sự không “xấu xa” đến như vậy trong lịch sử. Giả sử chúng ta ở trong hoàn cảnh ấy thì chắc cũng sẽ có những phản ứng tương tự để “bảo vệ” các quyền lợi của mình mà thôi. Giới hạn mong manh duy nhất giữ cho người ta biết dừng lại đúng lúc chỉ phụ thuộc vào mức độ “văn minh” của mỗi cá nhân. Salieri thật sự nham hiểm, thủ đoạn của ông ta không có gì mới nhưng cách thực hiện nó lại rất tinh vi và gây hậu quả nghiêm trọng. Xem Amadeus chắc bạn sẽ không thể nào quên được những cảnh phim ấn tượng với cao trào của các sự kiện mà NTL thích nhất cảnh Constanze mang bản thảo đến nhà Salieri để nhờ ông ta giúp chồng mình có được việc làm dạy nhạc cho cháu gái vua Áo. Salieri đã rất ngạc nhiên, ông ta thoạt tiên không hiểu lý do thật sự rồi sau đó nắm lại quyền chủ động (trong đoạn phim cắt bỏ có cảnh Salieri ép vợ Mozart phải ngủ với mình), một phần nào đó Salieri đã cảm thấy thoả mãn khi Mozart phải cầu cạnh mình.
Vợ của Mozart đang nhờ Salieri giúp chồng mình
Thế nhưng ông ta lại không nghĩ tới một điều khác khi cầm trên tay những trang bản thảo gốc của Mozart: những nốt nhạc ngay ngắn, không một dấu tẩy xoá. Vẻ đẹp của âm nhạc sáng bừng lên trên những trang giấy, nó là hiện hữu của một tài năng không gì sánh nổi, vượt rất xa ngay chính Salieri. Cú đâm ấy là định mệnh. Salieri bàng hoàng, choáng váng, không tin ở mắt mình nữa. Những trang giấy vương vãi trên sàn nhà và nhạc sĩ cung đình chết điếng người đứng trơ trơ. Từ giây phút ấy Salieri coi Mozart là kẻ thù của mình trong âm nhạc. Ông tự nguyền sẽ tìm mọi cách để tiêu diệt Mozart. Khoảnh khắc ấy con quỷ trong Salieri đã lấn át phần người rất Thánh.
Nếu bạn đến với Amadeus để hy vọng nhìn thấy một “thánh nhân” Mozart thì có thể bạn sẽ hơi thất vọng khi bắt gặp những cảnh ăn chơi đàng điếm của Mozart. Đơn giản ông cũng là một nghệ sĩ như bao người khác và là một con người bình thường có nhu cầu sống như tất cả mọi người. Cách phản xử theo hình thức và định kiến là sai lầm. Rồi bạn thấy mình bị cuốn đi trong âm nhạc thần thánh của Mozart, nức nở với nó và quên đi tất cả. Mỗi vở Opéra của Mozart ít nhiều có cảm hứng từ những sự kiện đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trong cuộc đời ông. Và lại chỉ riêng Salieri nhìn thấy trong “Don Giovanini” hình ảnh Leopold trách móc cậu con trai không tuân lời và những lời sám hối của chính Mozart. Nước Áo thời ấy đã may mắn có được một vị vua yêu mến âm nhạc nhưng cũng chính những khả năng hạn chế trong cảm nhận âm nhạc của Joseph II đã là một định kiến nghiệt ngã với sáng tạo. Ông ta không đủ khả năng hiểu và cảm nhận Mozart. Vở Opéra Figaro của Mozart đã không thành công đơn giản cũng vì lẽ ấy. Nhưng Mozart không dừng lại. Nếu như người ta vẫn gọi ông là người đến từ hành tính khác thì sứ mệnh duy nhất của ông là sáng tác âm nhạc. Không nản chí vì những khó khăn vật chất, Mozart tiếp tục sáng tác. Hình ảnh nhạc sĩ viết nhạc ngay trên bàn billard là một minh họa rất thú vị về cuộc đời của ông.
Mozart không có chỗ đứng xứng đáng trong cung đình đơn giản vì ông chưa bao giờ là một “chính khách” khéo léo nhưng trái lại cung đình cũng không phải là một môi trường thích hợp với Mozart bởi những hạn chế của nó. Trong phim ta không hề cảm thấy Mozart tiếc nuối việc làm tại hoàng cung sau những thành công rực rỡ ban đầu. Công chúng đã đón nhận tài năng của Mozart với tấm lòng rộng mở. Ở Vienna, Mozart được mọi người yêu mến và âm nhạc của ông đã thật sự đi vào lòng người. Với một nhạc sĩ thì còn có gì tuyệt vời hơn thế?
Trước khi đến với cung đình Áo thì tài năng của Mozart đã bay đi rất xa, ngay cả chính Salieri cũng đã rất ngưỡng mộ thiên tài trẻ tuổi ấy. Hoàng cung đơn giản chỉ là một bước đệm, một thử nghiệm của Mozart với dòng nhạc “quý tộc” chứ nó chưa bao giờ có ảnh hưởng quan trọng tới cuộc đời sáng tác của ông. Bên cạnh một Mozart tài năng, tự tin đến ngạo mạn thì trong Amadeus ta còn gặp một Mozart khác biết phục thiện và rất độ lượng. Không phải ông không biết Salieri luôn tìm cách hãm hại mình nhưng trong buổi vua Áo trao giải thưởng cho Salieri, một trong những phần thưởng tối cao của hoàng gia, thì vượt ra ngoài tư duy hẹp hòi của Salieri, Mozart đã đến chúc mừng với tất cả sự chân thành trong nghệ thuật. Cũng từ đây cuộc đời của Mozart bắt đầu đi vào những bước ngoặt mới không kém phần đau khổ. Đôi khi người xem tự hỏi làm sao một tâm hồn phong phú và nhạy cảm đến nhường ấy lại có thể chung sống với một người đàn bà “tầm thường” và hoàn toàn “thực dụng” như Constanze? Cô ta chưa bao giờ thật sự hiểu công việc của chồng, điều quan tâm duy nhất chỉ là tiền nhuận bút. Hình như Mozart cũng không có nhu cầu chia xẻ về nghệ thuật với Constanze, hai con người ấy tự nhiên hài hòa với nhau một cách lạ kỳ trong cuộc sống. Một phần nào sự bình yên trong gia đình ấy cũng là một chỗ dựa tốt cho nhạc sĩ những lúc thiếu thốn về vật chất. Giã từ hoàng cung, Mozart đến với thế giới bình dân – một môi trường âm nhạc đại chúng, rộng hơn rất nhiều và ít khắt khe hơn. Đây mới chính là thế giới của ông với tự do đích thực và một công chúng có khả năng đón nhận những sáng tạo mới mẻ.
Mozart điều khiển ban nhạc cung đình
Phần cuối của phim ta có thể nhận thấy hai sự kiện chính: cái chết của người cha, Leopold, và sức khoẻ của Mozart đang cạn kiệt dần. Về mặt tinh thần thì Leopold đã luôn là một chỗ dựa, nơi mà Mozart có thể tìm thấy những lời khuyên bảo hay nói một cách khác là ông luôn tìm thấy sự che chở nơi Leopold. Cùng với sự ra đi của người cha Mozart chơi vơi và đau khổ tột cùng. Những cảm xúc ấy đã góp phần tạo nên tác phẩm nổi tiếng “Don Giovanni”. Amadeus không tìm cách lý giải hay phân tích âm nhạc của Mozart nhưng nó t
hật sự là một tiền đề rất thú vị, tạo cảm hứng cho những ai từ trước đến nay ít quan tâm đến nhạc cổ điển. Sau khi xem Amadeus không ít người tìm nghe nhạc Mozart để cảm thấy những điều kỳ diệu của những thế kỷ trước.
Trong những cảnh phim về cuối, Mozart luôn xuất hiện với bộ dạng xanh xao và chai rượu giải sầu thường trực. Sự túng thiếu và cả thói ăn chơi hoang phí sức khoẻ đang giết dần, giết mòn tài năng ấy. Nhưng Mozart cần đến chúng như một cách tự giải thoát khỏi những bức bách trong sáng tạo, tuyệt vọng tìm cách thoát ra khỏi chính mình, đi tìm một điều mà chỉ có Mozart biết, hay thậm chí chính ông cũng chưa biết. Sáng tạo. Cảm ơn thành phố Praha đã cho phép camera quay tự do 360° và tái tạo lại chính xác nhất khung cảnh xã hội thời đó, cho người xem tới gần hơn và hiểu nhiều hơn số phận kỳ lạ của một thiên tài. Một trong những sự kiện gây ấn tượng ma quái trong phim là cảnh một người giấu mặt trong trang phục hoá trang của Leopold đến nhà đặt Mozart viết bản nhạc cầu hồn Requiem. Bây giờ người ta đã biết được chính xác tên của nhà quý tộc giấu mặt ấy nhưng trong phim thì đó chính là Salieri với mục đích tìm mọi cách huỷ hoại không những về thể chất mà cả tâm hồn Mozart. Riêng mình Salieri đã tìm được điểm yếu của Mozart sau khi xem vở Don Giovanni và ông ta liên tục xoáy vào đó. Những sự kiện tiếp nối dồn dập, sự túng quẫn đã ép Mozart làm việc quá sức cộng thêm với niềm đam mê sáng tạo ngày càng đưa nhạc sĩ gần tới cái chết được dự báo trước. Đạo diễn Milos Forman đã khéo léo thay đổi một vài chi tiết trong lịch sử để đẩy mâu thuẫn trong phim lên tới đỉnh điểm, làm tỏa sáng hơn bao giờ hết tài năng của Mozart. Bạn có thể nói chi tiết khi Mozart nằm trên giường bệnh và Salieri đã không theo kịp những ý sáng tạo trong âm nhạc của Mozart là thái quá nhưng NTL nhìn thấy ở đây một thủ pháp nghệ thuật đơn thuần. Một cuộc so gươm theo đúng truyền thống thời bấy giờ về tinh thần. Tất nhiên ta cũng nên biết rằng người chép những nốt nhạc cuối cùng này là một học trò của Mozart chứ không phải Salieri. Như thế cho đến tận phút cuối cùng Mozart đã hoàn toàn chinh phục Salieri bằng chính tài năng của mình. Salieri có thể hãm hại Mozart trên đường danh vọng hay có thể làm cho ông túng thiếu trong cuộc sống nhưng không bao giờ, không bao giờ Salieri có được tài năng âm nhạc như của Mozart. Thêm nữa nghệ thuật chân chính không cần danh vọng.
Ta cũng cần phải nói lời cảm ơn dành cho dàn nhạc giao hưởng danh tiếng “The Academy of St Martin in the Fields” đã thể hiện rất thành công các tác phẩm của Mozart cùng với các dàn đồng ca Ambrosian Opera Chorus, Academy of St Martin in the Fields Chorus, và The Choristers of Westminster Abbey. Nếu thiếu họ Amadeus đã không thể thành công. Cho đến từng khuôn hình cuối cùng người xem hoàn toàn mê đắm trong âm nhạc của Mozart và chính âm nhạc thần thánh ấy đã đưa tiễn nhạc sĩ ra đi hoàn toàn vô danh, trong một nghĩa trang công cộng, trong một ngôi mộ tập thể. Những lời kinh cầu vội vã, những chiếc xẻng vôi tạm bợ trong một ngày mưa tầm tã như muốn nhấn mạnh hơn cái “vô ngã” và làm nổi bật con người Mozart. Sự trở về muộn màng của Constanze và cậu con trai giống như kết thúc đẹp của một câu chuyện cổ tích, một sự an ủi tối hậu. Trong số những người đưa tiễn Mozart (chỉ tới cửa ô) ta có thể bắt gặp những khuôn mặt quen thuộc của hoàng gia, của bạn bè và của cô bé người hầu nức nở khóc một cách tuyệt vọng. Có lẽ cô mới là người thật sự hiểu giá trị con người của Mozart. Thiên Chúa đã chọn cách trả lời của riêng mình cho Salieri. Nếu như lúc đương thời vở “Axur” của ông ta đã được công diễn 100 lần, so với 5 lần của “Don Giovanni” và 9 lần cho “Marriage of Figaro”, thì ngày nay gần như không còn ai biết đến Salieri nữa. Bộ phim khép lại với cảnh Salieri hoàn toàn mất trí, được đẩy đi giữa đám người điên loạn cũng là một câu trả lời hay tuy rất kịch.
Trong mỗi con người chúng ta đều tồn tại một Salieri.
Riêng Mozart là duy nhất.
Wolfgang Amadeus Mozart!
(c) NguoiThangLong
Amadeus: thời gian và cát bụi (2)

Chính sự mâu thuẫn và giằng co trong nội tâm của Salieri đã tạo nên sức cuốn hút của bộ phim. Ta có thể nhìn nhận Salieri như là “cái xấu” nhưng sự thực thì ông lại không hẳn như thế. Tôi nhìn thấy Salieri đơn giản là một “thử thách” đối với Mozart, một định mệnh được sắp đặt bởi Thiên Chúa. Thời ấy người ta tin tuyệt đối vào Đấng Tối cao và Nhà Thờ có một vai trò quan trọng với chính quyền. Dần dần trong diễn biến của bộ phim ta sẽ nhận thấy Salieri luôn xuất hiện như là một nhân chứng, như là một người kể chuyện. Bản thân ông lại không có gì quan trọng. Sự tương phản lạ kỳ giữa Salieri và Mozart, mặc dù cả hai đều xuất thân từ tỉnh lẻ, luôn làm người xem thích thú. Salieri không bao giờ hiểu nổi vì sao tài năng của Mozart lại ngông cuồng đến nhường ấy?
Không còn một từ nào thích hợp hơn để dành cho khả năng sáng tác đầy ngẫu hứng của Mozart ngoài hai chữ “Thiên tài”. Với ông những nốt nhạc dường như chỉ là một trò chơi xếp hình đơn giản, những khuông nhạc được định hình sẵn trong đầu chỉ đợi khoảnh khắc thích hợp để viết ra. Salieri là người đầu tiên nhận biết tài năng ấy và ông ta đã muốn thử thách Mozart trong lần ra mắt đầu tiên với vua Áo, một bản hành khúc được biên soạn rất cầu kỳ theo phong cách hoàng cung và tài năng của Salieri. “Chú bé” Mozart xuất hiện với tất cả dáng vẻ hợm hĩnh của một anh tỉnh lẻ mới về thành phố và thêm một lần nữa đã làm trò cười cho tất cả các bậc vương giả, công hầu trong triều. Thế nhưng hội đồng âm nhạc tối cao gồm các bậc thầy người Ý lừng danh của Vua Áo sẽ sớm phải nghiêng mình trước thần đồng trẻ tuổi Mozart. Trong khi các vị khả kính này còn đang băn khoăn tranh cãi là nên dùng thứ tiếng nào trong một vở Opéra ngoài tiếng Ý truyền thống ra thì Mozart đã thản nhiên trả lời vua Áo: “tiếng Đức”. Có lẽ đơn giản bởi vì Mozart nói tiếng Đức hay bởi vì ông sẽ viết một vở nhạc kịch cho những người nói tiếng Đức…Trả lời câu hỏi tại sao của vua Áo, Mozart đã rất giảndị nói rằng bản thân hình thức ngôn ngữ không quan trọng mà yếu tố quyết định chính là âm nhạc – nội dung căn bản của Opéra. Ngay chủ đề của vở Opéra của Mozart cũng làm cho hoàng cung ngạc nhiên khi ông lựa chọn tức thì bối cảnh hậu cung của vua Thổ. Và Mozart vẫn nói về tình yêu, bất chấp ý tứ xỏ xiên của các “bậc thầy” người Ý, nhưng bằng cách của riêng ông, vượt xa tất cả những khuôn khổ của âm nhạc thời bấy giờ.
Mozart đang biến tấu bản hành khúc của Salieri mà ông chỉ cần nghe qua một lần đã thuộc lòng.
Trong cảnh đám quần thần đổ xô vào lắng nghe tiếng nhạc vọng ra từ phòng khách của vua Áo có lẽ ít người hiểu được rằng một tài năng mới đang cất cánh bay lên. Với họ đơn giản chỉ là một điều gì đó lạ lẫm, khác biệt với âm nhạc cung đình “tiêu chuẩn”. Có một người cay đắng gượng cười, đó là Salieri. Ông đã không thể tự vượt qua chính mình trong âm nhạc và những khúc mắc những dở dang trong giai điệu của bản hành khúc đang được Mozart biến tấu một cách thần tình và hoàn mỹ. Salieri nhận ra những điều mà chính mình vẫn hằng khao khát đạt tới mà chưa bao giờ được lại quá đơn giản dưới những ngón đàn của chàng thanh niên trẻ Mozart. Năm ấy ông mới 26 tuổi.
Vở Opéra đầu tiên của Mozart viết theo “đơn đặt hàng” của cung đình đã thật sự là một tuyệt tác. Thành công của nó là tức thì và kéo theo rất nhiều điều thú vị và không thú vị khác. Chàng trai đa tình Mozart ngây ngất trong hào quang và giữa những người tình. Ông bố Leopold giận dữ vì lần đầu tiên Mozart đã không tuân theo những lời khuyên bảo của mình và tự tiện cưới vợ. Người xem hoàn toàn hiểu được đích nhắm cao hơn của Leopold vào các cô con gái của các bậc công hầu nhưng cặp Mozart – Constanze hài hoà với nhau một cách bất ngờ (hay ít ra cũng về yếu tố phòng the đơn thuần) và cũng bắt đầu từ đây cuộc đời của thiên tài chuyển sang một giai đoạn mới.
Đạo diễn Milos Forman đã rất khéo léo sắp xếp các chi tiết hài hước xen lẫn với các đại cảnh. Từng khuôn hình của ông đẹp một cách hoàn mỹ, chúng gợi cho người xem các bức tranh châu Âu thế kỷ XVIII & XIX. Việc quyết định lựa chọn Praha để quay phim đã là một quyết định rất sáng suốt vì đó là thành phố châu Âu duy nhất còn giữ lại được nguyên vẹn những kiến trúc gốc từ thời Mozart và trước đó nữa. Người xem hoàn toàn bị chinh phục bởi các trang trí, các nội thất. Nếu như bạn biết rằng chiếc ghế của vua Áo thật sự là một cổ vật có một không hai hay các diễn viên đang thật sự diễn trên tấm thảm làm từ nhiều thế kỷ trước…Trong điện ảnh không có chỗ cho sự hời hợt và cẩu thả nếu ta muốn thật sự làm một “tác phẩm”. Và xuyên suốt tất cả những hình ảnh ấy là âm nhạc của Mozart được lựa chọn kỹ càng và phối hợp hài hoà một cách tài tình. Người xem được chìm đắm và ngây ngất trong một thế giới của những âm thanh diệu kỳ. Ta không nhận ra ngay sự có mặt của âm nhạc, đơn giản vì nó là “môi trường” của Amadeus, là yếu tố không thể thiếu được, ta chỉ biết rằng mình đang bị chinh phục, bị lối cuốn. Nói về một nhạc sĩ thì không có gì hay hơn là dùng chính âm nhạc của ông để bộc bạch tâm hồn ông. Có lẽ ít khi người xem có dịp được tìm hiểu một tuyệt phẩm âm nhạc qua điện ảnh như thế. Trong Amadeus nội dung phim chỉ còn là minh hoạ, chính âm nhạc thần thánh của Mozart mới là “nhân vật” chính. Người xem cùng trăn trở với số phận long đong của nhạc sĩ rồi cùng bay bổng lên trong những nốt nhạc đầy tinh tế của ông.
Amadeus là một bộ phim của các xung đột trên tất cả mọi khía cạnh. Đó là mâu thuẫn giữa tuổi trẻ và khuôn thước được đại diện bởi Giáo Chủ. Đó là mâu thuẫn giữa định kiến và tự do. Một bên là các nhạc sĩ cung đình, một bên là chàng Mozart đầy tài năng. Mâu thuẫn giữa cha và con khi ông bố Leopold, người đã dành cả đời mình để nuôi dạy Mozart, muốn tiếp tục ép buộc chàng trai trẻ sống theo ý muốn của riêng mình. Điều ấy đã là không thể và sẽ còn luôn là một vấn đề lớn của nhân loại. Mâu thuẫn giữa đồng nghiệp mà Salieri là một minh hoạ tuy
t vời. Mâu thuẫn giữa nhu cầu tự do trong nghệ thuật và tiền bạc…ta có thể liệt kê ra đây thêm nhiều xung đột nữa nhưng theo NTL thì có hai vấn đề lớn nhất thuộc về bản chất và có tính bản lề cách mạng, đó là mâu thuẫn trong chính nội tâm của Salieri và sự đòi hỏi được tự do sáng tạo của Mozart.
Cảnh Mozart bối rối giữa tình yêu của nữ diễn viên ca kịch nổi tiếng và cô vợ “sắp cưới” Constanze ngay trên sân khấu. Người đứng ngoài cùng bên phải là vua Áo. Salieri lại thêm một lần cay đắng vì không những ông đã hoàn toàn bị chính phục bởi âm nhạc của Mozart mà đến ngay cả “người tình” lý tưởng trong tinh thần của ông cũng đã thuộc về chàng trai ấy.
Đam mê với âm nhạc và tìm tất cả mọi cách để đi tới nó, Salieri đã đặt một lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa để cầu mong cho những thành đạt của đời mình. Ông đã nguyện sẽ hiến dâng đời mình để sáng tác nhạc dâng lên Đấng tối cao nhưng bên cạnh đó Salieri lại muốn mình sẽ trở thành bất tử như Thiên Chúa. Hai điều này mâu thuẫn với nhau và không thể cùng tồn tại. Khi Salieri nhận ra khả năng hạn chế của mình trong nghệ thuật và nhất là khi ông phải đối mặt với một sự thật nghiệt ngã là Mozart lòng tin và niềm hy vọng vào phép mầu của Chúa trong ông đã sụp đổ. Cảnh Salieri ném cây Thánh giá vào lửa có một ý nghĩa rất lớn, trong một khía cạnh nào đó thì ông ta đã chọn Satan thay cho Chúa trời để phụng sự từ giây phút ấy. Thế nhưng Salieri là một người có hiểu biết và có khả năng cảm nhận âm nhạc rất cao, chứ không bị hạn chế như vua Áo. Ông khâm phục tài năng của Mozart, say mê âm nhạc của Mozart nhưng cũng biết cách sáng tác “phù hợp” với gu và khả năng thưởng thức của vua Áo. Yếu tố “chính khách” ở đây đóng một vai trò quan trọng. Ta có thể kết luận vấn đề này tuỳ theo quan điểm cá nhân nhưng Salieri đã thành công với một công chúng “giới hạn” và thất bại hoàn toàn trong nghệ thuật chân chính. Tự bản thân Salieri hiểu điều ấy.
Mozart thật sự là một nhà cách mạng theo đúng nghĩa đen của nó khi ông nắm lấy quyền chủ động sáng tác mà vở Opéra “Figaro” là một minh chứng. Không những ông đã dám vượt qua những rào cản chết người, vua Áo cấm trình diễn Figaro vì nội dung mâu thuẫn giai cấp của nó và bản thân em gái của ông – hoàng hậu Pháp Marie-Antoinette đã bị rơi đầu vì cách mạng Pháp, mà còn có tài năng để thuyết phục vua Áo. Mozart đã mạnh dạn phá bỏ các luật lệ trong âm nhạc, làm tất cả sửng sốt bởi cách tạo hợp ca trong liền 20 phút. Vẫn không một ai hiểu giá trị nghệ thuật của Mozart ngoài Salieri. Thời bấy giờ nhạc sĩ chỉ là một người viết nhạc thuê cho nhà giàu. Ví dụ như khi có sinh nhật cô con gái rượu, ông quý tộc sẽ gọi nhạc sĩ đến và nói rằng tôi muốn có một bản nhạc như thế này, thế kia…nói một cách khác là chỉ dẫn chính xác cần phải làm gì. Mozart không chấp nhận điều ấy, ông đấu tranh đòi hỏi quyền được tự do sáng tác và giá trị cho chính cá nhân nhạc sĩ – một chỗ đứng xứng đáng trong xã hội phong kiến châu Âu. Và Mozart đã phải trả giá rất đắt cho việc làm dũng cảm của mình. Không kiếm được việc làm trong giới quý tộc, chỉ sống bằng tiền công những tác phẩm nghệ thuật và lòng yêu mến của người dân thành Vienna, cuộc sống của Mozart gặp phải không ít khó khăn.
Chính những mâu thuẫn rất gắt gao này đã tạo nên nhịp sống của Amadeus, làm thành các cao trào của phim, đưa người xem từ cảm xúc này đến cảm xúc khác một cách thật tự nhiên. Có thể đôi lúc ta chỉ cảm thấy cuộc đấu tay đôi giữa Salieri và Mozart nhưng nhìn chung bộ phim đã dựng lại thành công hiện thực xã hội cùng những “khuôn khổ” của nó thời Mozart. Khán giả không chỉ còn là một người xem đơn thuần mà thật sự đã là một nhân chứng trong phim, cùng sống những phút giây vinh quang và cực nhọc của đời một thiên tài.
(c) NguoiThangLong
(còn tiếp)
Atonement & Astonishment (of Golden Globes Prize)

Director: Joe Wright
Writers: Ian McEwan (novel); Christopher Hampton (screenplay)
Release Date: 7 September 2007 (UK)
Diễn viên chính:
Cecilia Tallis: Keira Knightley
Robbie Turner: James McAvoy
Briony Tallis năm 13 tuổi: Saoirse Ronan
Briony năm 18 tuổi: Romola Garai
Hoàn toàn bị bất ngờ khi nghe tin bộ phim này đoạt giải Golden Globes ở Mỹ!
Amadeus: thời gian và cát bụi (1)

Amadeus bản gốc phát hành năm 1984.
Amadeus, The Director’s Cut phát hành DVD năm 2002
Đạo diễn: Milos Forman
Kịch bản: Sir Peter Shaffer
Diễn viên chính:
F. MURRAY ABRAHAM: Antonio Salieri
TOM HULCE: Wolfgang Amadeus Mozart
ELIZABETH BERRIDGE: Constanze
JEFFREY JONES: Emperor Joseph II
Phim mầu, 173 phút.
Rated #73 of all time at IMDb
Các giải thưởng:
8 Oscar 1985
Best Actor in a Leading Role F. Murray Abraham
Best Art Direction-Set Decoration Patrizia von Brandenstein Karel Cerný (I)
Best Costume Design Theodor Pistek (II)
Best Director Milos Forman
Best Makeup Paul LeBlanc (I) Dick Smith (II)
Best Picture Saul Zaentz
Best Sound Mark Berger (I) Thomas Scott (II) Todd Boekelheide Christopher Newman (I)
Best Writing, Screenplay Based on Material from Another Medium Peter Shaffer
4 Golden Globe 1985
Best Director – Motion Picture Milos Forman
Best Motion Picture – Drama
Best Performance by an Actor in a Motion Picture – Drama F. Murray Abraham
Best Screenplay – Motion Picture Peter Shaffer
1 césar 1985
Best Foreign Film (Meilleur film étranger) Milos Forman
Viết cho HRS
Có lẽ quá “xưa” để nói về một bộ phim phát hành cách đây 23 năm cho dù nó đã đoạt một lúc 8 giải Oscar nhưng ấn tượng sau khi xem lại bộ phim này trên DVD là nó vẫn giữ được nguyên những giá trị nghệ thuật và tính đương đại của mình. Một thành công không nhỏ trong điện ảnh thế giới. Tên “Amadeus” hơi xa lạ với những ai không thật sự quan tâm tới nhạc cổ điển nhưng chỉ cần ta viết nguyên tên WOLFGANG AMADEUS MOZART thì tất cả đều có thể trầm trồ thích thú. Amadeus là một bộ phim nói về Mozart nhưng lại không phải là loại phim tiểu sử hay một dạng tương tự như thế, điều mà người xem cảm nhận được ngay lập tức trong phim là âm nhạc của Mozart, những nốt nhạc thiên thần của một thiên tài sớm vội tắt trên bầu trời âm nhạc. Nói một cách khác, Amadeus là phim âm nhạc về Mozart. Đạo diễn Milos Forman đưa chúng ta quay trở lại thành Vienna năm 1823 để gặp một nhân vật kỳ dị, một ông lão già nua và gàn dở, một kẻ tự sát, một tên sát nhân và những lời thú tội kinh hoàng sau 32 năm đau đớn. Kẻ ghê gớm ấy không phải là một người bình thường, ông ta chính là ANTONIO SALIERI – nhạc sĩ cung đình của vua Áo Joseph II, người đã một thời là bạn của Mozart. Ngày nay hầu như không còn ai nhắc tới những tác phẩm âm nhạc một thời lừng danh của Salieri nữa, chúng bị rơi vào quên lãng dưới những lớp bụi của thời gian và ngay chính bản thân nhạc sĩ cũng trở thành gần như vô danh.
Vô danh bên cạnh WOLFGANG AMADEUS MOZART.
Công bằng mà nói thì nhạc sĩ Salieri là một người có khả năng và ý chí. Tuy cuộc đời âm nhạc của ông đã có những bước khởi đầu không mấy thuận lợi nhưng bằng lòng đam mê và quyết tâm của mình, cuối cùng Salieri đã trở thành nhạc sĩ hoàng cung cho vua Áo.
Nhạc sĩ Salieri trong phim
Ta cũng nên biết rằng vào hồi thế kỷ XIX ở châu Âu thì Vienna là một trong những trung tâm lớn về âm nhạc của thế giới. Nó là miền đất hứa cho các tài năng, trong đó có Mozart. Sinh ra tại thành phố Salzburg và được học về âm nhạc bởi chính người cha mình, Leopold, một nhạc sĩ khá nổi danh thời ấy, Mozart đã sớm chứng tỏ thiên tài của mình từ nhỏ trong những chuyến công diễn vòng quanh châu Âu. Thế nhưng xã hội phong kiến châu Âu lúc bấy giờ nhìn nhận các nghệ sĩ chỉ như là một công cụ để mua vui. Mozart phục vụ cho nhà thờ nhưng vẫn chỉ là “một con khỉ biết làm trò” mà thôi. Các tài liệu lịch sử cho thấy sự phân biệt đẳng cấp này lớn đến mức mà nghệ sĩ được xếp cùng hạng với những người hầu. Và Mozart xuất hiện, ông chính là một cuộc cách mạng không chỉ riêng trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc mà cả trong việc thay đổi trật tự xã hội và đòi quyền công bằng cho các nghệ sĩ. Ta sẽ nói đến điều này trong quá trình diễn biến của bộ phim.
Amadeus bắt đầu bằng lời tự thú của Salieri – một sự thật lịch sử được ghi nhận. Ngay lập tức người xem được dẫn vào trung tâm câu chuyện, bị hấp dẫn bởi những điều bí ẩn. Trong cái nhà thương điên ấy ta có cảm giác như là một địa ngục có thật nơi dương thế với những bóng ma vật vờ, điên loạn. Tất cả chỉ là một câu chuyện giữa hai nhân vật, Salieri và vị cha cố, hay nói đúng hơn là tự truyện của Salieri – người đã phải mang nặng niềm hối hận đè nặng trong tim suốt 32 năm kể từ cái chết của Mozart. Người xem chắc chắn bị ấn tượng tức thì bởi tài năng diễn xuất của F. MURRAY ABRAHAM trong vai Salieri. Dưới những lớp da nhăn nheo vì tuổi tác và trong một bộ xương khô gầy gò là cả một sức sống mạnh liệt, là cả một niềm đam mê được thể hiện qua ánh mắt sáng rực mỗi khi ông nói về âm nhạc. Và âm nhạc, những nốt nhạc opéra sang trọng, một giọng ca tuyệt vời…Có một khoảnh khắc Salieri như sống lại với dĩ vãng đầy hào quang của chính mình.
Người xem có đôi chút ngỡ ngàng với sự xuất hiện của Mozart trong phim. Không hề giống với một nhạc sĩ lừng danh mà trong bộ trang phục rất sang ấy Mozart luôn là một chú bé con chơi trò đuổi bắt và chạy theo các cô gái trẻ. Với Salieri, ông từng nhìn nhận Mozart như thần tượng của chính mình nên khoảnh khắc hai kẻ “vụng trộm” bắt gặp nhau mới trớ trêu làm sao. Đạo diễn Milos Forman cũng đã rất khéo léo giới thiệu tính cách của Salieri cho người xem thông qua hành vi ông ta lẻn vào phòng tiệc để ăn vụng. Lẽ ra buổi biểu diễn của Mozart cho các khách mời của Giáo chủ đã là một bước tiến tốt trong sự nghiệp của ông thì sự bất cẩn của Mozart đã khiến ông bị thất sủng. Nhưng công chúng thì ngưỡng mộ Mozart. Từ những thước phim này đạo diễn Milos Forman đã làm bộc lộ tính khí của Mozart: tự tin và ngạo mạn. Cử chỉ Mozart mở toang cánh cửa, cúi chào công chúng hâm mộ mình và chổng…mông vào Giáo chủ đã nói lên tất cả. Không phải ai cũng hiểu giá trị tài năng âm nhạc của Mozart vào thời điểm ấy, riêng mình Salieri. Bằng cả sự ngưỡng mộ lẫn lòng ghen tỵ,
Salieri đã len lén đến xem bản nhạc của Mozart. Hãy lắng nghe đoạn ông kể lại cho vị cha cố về âm nhạc của Mozart, chỉ cần nhìn các cử chỉ của Salieri là người xem cũng đã đủ cảm nhận được vẻ đẹp thần thánh trong âm nhạc của Mozart. Định mệnh đã an bài, khi Mozart bị Giáo chủ xua đuổi thì chính Salieri lại là người xin vua Áo cho Mozart ở lại cung đình. Ta khó có thể đoán được lý do chính xác của quyết định này nhưng tôi nhìn nhận Salieri và Mozart như là Bá Nha và Tử Kỳ trong lịch sử Trung hoa, điểm khác biệt duy nhất là Salieri vừa ngưỡng mộ âm nhạc của Mozart và vừa căm ghét con người ông.
Mozart trong một đêm cuồng say
(c) NguoiThangLong
(còn tiếp)
Ratatouille: không chỉ là hoạt hình (Bình luận phim)
(06/08/07 8:08 pm)
Phim của Disney – Pixar, 2007
Đạo diễn Brad Bird
Bình luận phim của NguoiThangLong (c)
Nếu bạn quả thật là người hâm mộ các phim hoạt hình của Pixar (Toy Story, A Bug’s life, Monster, Inc; Finding Nemo, The Incredibles, Cars…) thì nhất định không thể bỏ qua bộ phim mới nhất và chắc chắn cũng sẽ là một thành công mang tính toàn cầu mới của hãng phim hoạt hình lừng danh này: Ratatouille.
Bộ phim mang tên của một món ăn quê mùa truyền thống ở Pháp và Ratatouille sẽ đưa bạn đến với nghệ thuật ẩm thực Pháp cùng với niềm đam mê…vào bếp. “Muốn ăn phải lăn và bếp” mà lị
Cũng xin nói luôn rằng chú chuột Rémy trong phim không hề được “nhí nhảnh hoá” như Mickey mà nó thật sự là một con chuột với 30 000 cái lông vẽ 3D có thể được điều khiển cử động bằng máy tính từng cái một (thay vì 500 00 cái lông trên một con chuột…thật!) Sự khác biệt lớn nhất giữa Rémy và bầy chuột trong gia đình của cậu ta nằm ở chỗ Rémy là một chú chuột rất có gu “Rat de goût” thay vì chuột cống “Rat d’égout” như mọi người vẫn thường gọi. Tất cả bắt đầu từ những cái không thể xảy ra đúng như Blacky khẳng định: một con chuột gớm ghiếc mà lại mơ trở thành…đầu bếp giỏi! Chắc hẳn mọi người đều sẽ phá lên cười đúng như tác giả của kịch bản phim Jan Pinkava dự đoán.
Rémy và Emile
Sự khởi đầu của bộ phim không nằm ra ngoài trí tưởng tượng của nhiều bạn trẻ với cảnh sinh hoạt của một bầy chuột lúc nhúc và tham ăn. Sự tương phản đến nực cười giữa người anh trai béo núc Emile và Rémy tự nó đã nói lên toàn bộ tính cách của chú chuột có gu đặc biệt này. Quả thật như vậy, Rémy không ăn tục như lũ chuột cống vẫn thường làm mà chú ta rất kén chọn món ăn…ngon! Trái ngược với nguyên tắc sống của ông bố “Ăn để nạp năng lượng”, Rémy ăn để thưởng thức. Chính nhu cầu sống khác biệt này đã đẩy cậu ta mò vào bếp ăn vụng và tình cờ khám phá ra chương trình dạy nấu bếp của Auguste Gusteau trên truyền hình. Thay vì ăn trộm các món ăn rồi lẩn thật nhanh, Rémy đã bị cuốn hút bởi những lời vàng ngọc của ông vua đầu bếp Paris này để rồi hoàn toàn bị chinh phục khi nghe Gusteau tuyên bố “Tất cả mọi người đều có thể nấu bếp”. Nếu như Rémy là một sự tưởng tưởng và Gusteau chỉ là một hình ảnh tượng trưng thì những nguyên tắc căn bản của nghệ thuật làm bếp lại luôn có giá trị khi Gusteau khẳng định rằng không có một công thức món ăn nào là bất biến, bạn hoàn toàn có quyền thêm bớt theo ý thích của mình và giới hạn duy nhất chính là sự tưởng tưởng của người làm bếp. Điều này đúng với tất cả các bộ môn nghệ thuật.
Rémy trong bếp tìm gia vị
Chắc hẳn bạn đã nghe nhiều về công phu trong làm phim hoạt hình của Pixar, với Ratatouille thì thời gian 6 năm là cần thiết để nhóm làm phim nghiên cứu Paris, tìm hiểu về các quán ăn nổi tiếng, xây dựng tính cách cho Rémy và cũng để học làm bếp luôn nữa. Không có một chi tiết nào bị bỏ qua từ kiểu ánh sáng dịu dàng, óng ả của Paris tháng 10 cho tới ngữ điệu tiếng Pháp trong bản tiếng Anh của phim được thể hiện rất chính xác trên môi của các nhân vật. Ratatouille là một sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật làm phim hoạt hình truyền thống (Toy Story) với kỹ thuật điện ảnh hiện đại kiểu “Final Fantasy”. Xem Ratatouille có đôi lúc khán giả quên mất là mình đang thưởng thức một bộ phim hoạt hình đơn giản vì cách làm phim rất gần với cinéma từ cách bố trí không gian, ánh sáng…tới kiểu quay phim di máy theo chuyển động của nhân vật. Chất lượng hình ảnh trong phim đạt tới độ tinh tế và chính xác rất cao trong từng chi tiết. Các món ăn vẽ trong phim chính là sáng tạo từ ảnh chụp 270 món ăn thật mà Pixar đã chế biến để làm phim. Ngay cả cửa hàng bán thuốc diệt chuột cũng được lấy mẫu từ một cửa hàng có thật ở khu Les Halles, Paris. Đến đây chắc hẳn các bạn đã có thể hình dung ra được phần nào chất lượng nghệ thuật của Ratatouille mà để có thể tán thưởng được nó 100%, NTL khuyên bạn nên tránh xa các bản sao kiểu “Screener” vẫn lưu hành trên internet (mình đã kịp xem thử rồi!)
Con đường gian khổ của Rémy đến với nghệ thuật nấu bếp
Ngay từ đầu bộ phim khán giả mọi lứa tuổi đã có dịp để cười thỏa thích vì những tình huống ngộ nghĩnh trong phim. Nhưng cũng từ lúc này ta đã nhận thấy mâu thuẫn giữa thói quen cố hữu và những gì mới mẻ. Đã là chuột thì cứ sống như chuột, thắc mắc làm gì? Ăn để no là sướng rồi, sao còn rách việc muốn ăn ngon? Rémy không có lời giải thích thỏa đáng nhưng nó cũng không chịu chấp nhận lối sống xô bồ của bầy chuột cống nữa.
Ông bố của Rémy và Emile
Trong suốt tiến trình của bộ phim, đạo diễn Brad Bird đã rất thành công trong việc giữ được chất phim hoạt hình đồng thời lôi cuốn khán giả theo những chuỗi sự kiện liên tiếp. Một phần nào đó Ratatouille mang chất “hành động”. Tiếng cười sảng khoái luôn xuất hiện trong mọi tình huống, kể cả lúc gay cấn nhất. Sự bất ngờ không dự kiến trước đã khiến Rémy lạc bầy, trôi dạt đến một nơi xa lạ. Nhưng ngay cả trong lúc hiểm nguy nhất, giữa cái sống và cái chết, thì chú chuột mê làm bếp này vẫn nhất định phải mang theo bằng được cuốn sách dạy nấu ăn của Gusteau. Cũng bắt đầu từ đây, một tình bạn chân thành đã nảy nở giữa Rémy và thần tượng của chú, cho dù chỉ là trong tâm tưởng.
Trong cái rủi, lại có cái may. Rémy lạc đàn, xa nhà, tuyệt vọng…nhưng lại đang ở giữa Paris, ngay trong quán ăn huyền thoại Auguste Gusteau.
(còn tiếp)
(c) NguoiThangLong
Amadeus: thời gian và cát bụi (Bình luận phim)
(05/08/05 11:15 pm)
Amadeus bản gốc phát hành năm 1984.
Amadeus, The Director’s Cut phát hành DVD năm 2002
Đạo diễn: Milos Forman
Kịch bản: Sir Peter Shaffer
Diễn viên chính:
F. MURRAY ABRAHAM: Antonio Salieri
TOM HULCE: Wolfgang Amadeus Mozart
ELIZABETH BERRIDGE: Constanze
JEFFREY JONES: Emperor Joseph II
Phim mầu, 173 phút.
Rated #73 of all time at IMDb
Các giải thưởng:
8 Oscar 1985
Best Actor in a Leading Role F. Murray Abraham
Best Art Direction-Set Decoration Patrizia von Brandenstein Karel Cerný (I)
Best Costume Design Theodor Pistek (II)
Best Director Milos Forman
Best Makeup Paul LeBlanc (I) Dick Smith (II)
Best Picture Saul Zaentz
Best Sound Mark Berger (I) Thomas Scott (II) Todd Boekelheide Christopher Newman (I)
Best Writing, Screenplay Based on Material from Another Medium Peter Shaffer
4 Golden Globe 1985
Best Director – Motion Picture Milos Forman
Best Motion Picture – Drama
Best Performance by an Actor in a Motion Picture – Drama F. Murray Abraham
Best Screenplay – Motion Picture Peter Shaffer
1 césar 1985
Best Foreign Film (Meilleur film étranger) Milos Forman
Viết cho HRS
Có lẽ là quá “xưa” để nói về một bộ phim phát hành cách đây 21 năm cho dù nó đã đoạt một lúc 8 giải Oscar nhưng ấn tượng sau khi xem lại bộ phim này trên DVD là nó vẫn giữ được nguyên những giá trị nghệ thuật và tính đương đại của mình. Một thành công không nhỏ trong điện ảnh thế giới. Cái tên “Amadeus” hơi xa lạ với những ai không thật sự quan tâm tới nhạc cổ điển nhưng chỉ cần ta viết nguyên tên WOLFGANG AMADEUS MOZART thì tất cả đều có thể trầm trồ thích thú. Amadeus là một bộ phim nói về Mozart nhưng lại không phải là loại phim tiểu sử hay một dạng tương tự như thế, điều mà người xem cảm nhận được ngay lập tức trong phim là âm nhạc của Mozart, những nốt nhạc thiên thần của một thiên tài sớm vội tắt trên bầu trời âm nhạc. Nói một cách khác, Amadeus là phim âm nhạc về Mozart. Đạo diễn Milos Forman đưa chúng ta quay trở lại thành Vienna năm 1823 để gặp một nhân vật kỳ dị, một ông lão già nua và gàn dở, một kẻ tự sát, một tên sát nhân và những lời thú tội kinh hoàng sau 32 năm đau đớn. Kẻ ghê gớm ấy không phải là một người bình thường, ông ta chính là ANTONIO SALIERI – nhạc sĩ cung đình của vua Áo Joseph II, người đã một thời là bạn của Mozart. Ngày nay hầu như không còn ai nhắc tới những tác phẩm âm nhạc một thời lừng danh của Salieri nữa, chúng bị rơi vào quên lãng dưới những lớp bụi của thời gian và ngay chính bản thân nhạc sĩ cũng trở thành gần như vô danh.
Vô danh bên cạnh WOLFGANG AMADEUS MOZART.
Công bằng mà nói thì nhạc sĩ Salieri là một người có khả năng và ý chí. Tuy cuộc đời âm nhạc của ông đã có những bước khởi đầu không mấy thuận lợi nhưng bằng lòng đam mê và quyết tâm của mình, cuối cùng Salieri đã trở thành nhạc sĩ hoàng cung cho vua Áo.
Nhạc sĩ Salieri trong phim
Ta cũng nên biết rằng vào hồi thế kỷ XIX ở châu Âu thì Vienna là một trong những trung tâm lớn về âm nhạc của thế giới. Nó là miền đất hứa cho các tài năng, trong đó có Mozart. Sinh ra tại thành phố Salzburg và được học về âm nhạc bởi chính người cha mình, Leopold, một nhạc sĩ khá nổi danh thời ấy, Mozart đã sớm chứng tỏ thiên tài của mình từ nhỏ trong những chuyến công diễn vòng quanh châu Âu. Thế nhưng xã hội phong kiến châu Âu lúc bấy giờ nhìn nhận các nghệ sĩ chỉ như là một công cụ để mua vui. Mozart phục vụ cho nhà thờ nhưng vẫn chỉ là “một con khỉ biết làm trò” mà thôi. Các tài liệu lịch sử cho thấy sự phân biệt đẳng cấp này lớn đến mức mà nghệ sĩ được xếp cùng hạng với những người hầu. Và Mozart xuất hiện, ông chính là một cuộc cách mạng không chỉ riêng trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc mà cả trong việc thay đổi trật tự xã hội và đòi quyền công bằng cho các nghệ sĩ. Ta sẽ nói đến điều này trong quá trình diễn biến của bộ phim.
Amadeus bắt đầu bằng lời tự thú của Salieri – một sự thật lịch sử được ghi nhận. Ngay lập tức người xem được dẫn vào trung tâm câu chuyện, bị hấp dẫn bởi những điều bí ẩn. Trong cái nhà thương điên ấy ta có cảm giác như là một địa ngục có thật nơi dương thế với những bóng ma vật vờ, điên loạn. Tất cả chỉ là một câu chuyện giữa hai nhân vật, Salieri và vị cha cố, hay nói đúng hơn là tự truyện của Salieri – người đã phải mang nặng niềm hối hận đè nặng trong tim suốt 32 năm kể từ cái chết của Mozart. Người xem chắc chắn bị ấn tượng tức thì bởi tài năng diễn xuất của F. MURRAY ABRAHAM trong vai Salieri. Dưới những lớp da nhăn nheo vì tuổi tác và trong một bộ xương khô gầy gò là cả một sức sống mạnh liệt, là cả một niềm đam mê được thể hiện qua ánh mắt sáng rực mỗi khi ông nói về âm nhạc. Và âm nhạc, những nốt nhạc opéra sang trọng, một giọng ca tuyệt vời…Có một khoảnh khắc Salieri như sống lại với dĩ vãng đầy hào quang của chính mình.
Người xem có đôi chút ngỡ ngàng với sự xuất hiện của Mozart trong phim. Không hề giống với một nhạc sĩ lừng danh mà trong bộ trang phục rất sang ấy Mozart luôn là một chú bé con chơi trò đuổi bắt và chạy theo các cô gái trẻ. Với Salieri, ông từng nhìn nhận Mozart như thần tượng của chính mình nên khoảnh khắc hai kẻ “vụng trộm” bắt gặp nhau mới trớ trêu làm sao. Đạo diễn Milos Forman cũng đã rất khéo léo giới thiệu tính cách của Salieri cho người xem thông qua hành vi ông ta lẻn vào phòng tiệc để ăn vụng. Lẽ ra buổi biểu diễn của Mozart cho các khách mời của Giáo chủ đã là một bước tiến tốt trong sự nghiệp của ông thì sự bất cẩn của Mozart đã khiến ông bị thất sủng. Nhưng công chúng thì ngưỡng mộ Mozart. Từ những thước phim này đạo diễn Milos Forman đã làm bộc lộ tính khí của Mozart: tự tin và ngạo mạn. Cử chỉ Mozart mở toang cánh cửa, cúi chào công chúng hâm mộ mình và chổng…mông vào Giáo chủ đã nói lên tất cả. Không phải ai cũng hiểu giá trị tài năng âm nhạc của Mozart vào thời điểm ấy, riêng mình Salieri. Bằng cả sự ngưỡng mộ lẫn lòng ghen tỵ, Salieri đã len lén đến x
em bản nhạc của Mozart. Hãy lắng nghe đoạn ông kể lại cho vị cha cố về âm nhạc của Mozart, chỉ cần nhìn các cử chỉ của Salieri là người xem cũng đã đủ cảm nhận được vẻ đẹp thần thánh trong âm nhạc của Mozart. Định mệnh đã an bài, khi Mozart bị Giáo chủ xua đuổi thì chính Salieri lại là người xin vua Áo cho Mozart ở lại cung đình. Ta khó có thể đoán được lý do chính xác của quyết định này nhưng tôi nhìn nhận Salieri và Mozart như là Bá Nha và Tử Kỳ trong lịch sử Trung hoa, điểm khác biệt duy nhất là Salieri vừa ngưỡng mộ âm nhạc của Mozart và vừa căm ghét con người ông.
Mozart trong một đêm cuồng say
Chính sự mâu thuẫn và giằng co trong nội tâm của Salieri đã tạo nên sức cuốn hút của bộ phim. Ta có thể nhìn nhận Salieri như là “cái xấu” nhưng sự thực thì ông lại không hẳn như thế. Tôi nhìn thấy Salieri đơn giản là một “thử thách” đối với Mozart, một định mệnh được sắp đặt bởi Thiên Chúa. Thời ấy người ta tin tuyệt đối vào Đấng Tối cao và Nhà Thờ có một vai trò quan trọng với chính quyền. Dần dần trong diễn biến của bộ phim ta sẽ nhận thấy Salieri luôn xuất hiện như là một nhân chứng, như là một người kể chuyện. Bản thân ông lại không có gì quan trọng. Sự tương phản lạ kỳ giữa Salieri và Mozart, mặc dù cả hai đều xuất thân từ tỉnh lẻ, luôn làm người xem thích thú. Salieri không bao giờ hiểu nổi vì sao tài năng của Mozart lại ngông cuồng đến nhường ấy?
Không còn một từ nào thích hợp hơn để dành cho khả năng sáng tác đầy ngẫu hứng của Mozart ngoài hai chữ “Thiên tài”. Với ông những nốt nhạc dường như chỉ là một trò chơi xếp hình đơn giản, những khuông nhạc được định hình sẵn trong đầu chỉ đợi khoảnh khắc thích hợp để viết ra. Salieri là người đầu tiên nhận biết tài năng ấy và ông ta đã muốn thử thách Mozart trong lần ra mắt đầu tiên với vua Áo, một bản hành khúc được biên soạn rất cầu kỳ theo phong cách hoàng cung và tài năng của Salieri. “Chú bé” Mozart xuất hiện với tất cả dáng vẻ hợm hĩnh của một anh tỉnh lẻ mới về thành phố và thêm một lần nữa đã làm trò cười cho tất cả các bậc vương giả, công hầu trong triều. Thế nhưng hội đồng âm nhạc tối cao gồm các bậc thầy người Ý lừng danh của Vua Áo sẽ sớm phải nghiêng mình trước thần đồng trẻ tuổi Mozart. Trong khi các vị khả kính này còn đang băn khoăn tranh cãi là nên dùng thứ tiếng nào trong một vở Opéra ngoài tiếng Ý truyền thống ra thì Mozart đã thản nhiên trả lời vua Áo: “tiếng Đức”. Có lẽ đơn giản bởi vì Mozart nói tiếng Đức hay bởi vì ông sẽ viết một vở nhạc kịch cho những người nói tiếng Đức…Trả lời câu hỏi tại sao của vua Áo, Mozart đã rất giảndị nói rằng bản thân hình thức ngôn ngữ không quan trọng mà yếu tố quyết định chính là âm nhạc – nội dung căn bản của Opéra. Ngay chủ đề của vở Opéra của Mozart cũng làm cho hoàng cung ngạc nhiên khi ông lựa chọn tức thì bối cảnh hậu cung của vua Thổ. Và Mozart vẫn nói về tình yêu, bất chấp ý tứ xỏ xiên của các “bậc thầy” người Ý, nhưng bằng cách của riêng ông, vượt xa tất cả những khuôn khổ của âm nhạc thời bấy giờ.
Mozart đang biến tấu bản hành khúc của Salieri mà ông chỉ cần nghe qua một lần đã thuộc lòng.
Trong cảnh đám quần thần đổ xô vào lắng nghe tiếng nhạc vọng ra từ phòng khách của vua Áo có lẽ ít người hiểu được rằng một tài năng mới đang cất cánh bay lên. Với họ đơn giản chỉ là một điều gì đó lạ lẫm, khác biệt với âm nhạc cung đình “tiêu chuẩn”. Có một người cay đắng gượng cười, đó là Salieri. Ông đã không thể tự vượt qua chính mình trong âm nhạc và những khúc mắc những dở dang trong giai điệu của bản hành khúc đang được Mozart biến tấu một cách thần tình và hoàn mỹ. Salieri nhận ra những điều mà chính mình vẫn hằng khao khát đạt tới mà chưa bao giờ được lại quá đơn giản dưới những ngón đàn của chàng thanh niên trẻ Mozart. Năm ấy ông mới 26 tuổi.
Vở Opéra đầu tiên của Mozart viết theo “đơn đặt hàng” của cung đình đã thật sự là một tuyệt tác. Thành công của nó là tức thì và kéo theo rất nhiều điều thú vị và không thú vị khác. Chàng trai đa tình Mozart ngây ngất trong hào quang và giữa những người tình. Ông bố Leopold giận dữ vì lần đầu tiên Mozart đã không tuân theo những lời khuyên bảo của mình và tự tiện cưới vợ. Người xem hoàn toàn hiểu được đích nhắm cao hơn của Leopold vào các cô con gái của các bậc công hầu nhưng cặp Mozart – Constanze hài hoà với nhau một cách bất ngờ (hay ít ra cũng về yếu tố phòng the đơn thuần) và cũng bắt đầu từ đây cuộc đời của thiên tài chuyển sang một giai đoạn mới.
Cảnh Mozart bối rối giữa tình yêu của nữ diễn viên ca kịch nổi tiếng và cô vợ “sắp cưới” Constanze ngay trên sân khấu. Người đứng ngoài cùng bên phải là vua Áo. Salieri lại thêm một lần cay đắng vì không những ông đã hoàn toàn bị chính phục bởi âm nhạc của Mozart mà đến ngay cả “người tình” lý tưởng trong tinh thần của ông cũng đã thuộc về chàng trai ấy.
Đạo diễn Milos Forman đã rất khéo léo sắp xếp các chi tiết hài hước xen lẫn với các đại cảnh. Từng khuôn hình của ông đẹp một cách hoàn mỹ, chúng gợi cho người xem các bức tranh châu Âu thế kỷ XVIII & XIX. Việc quyết định lựa chọn Praha để quay phim đã là một quyết định rất sáng suốt vì đó là thành phố châu Âu duy nhất còn giữ lại được nguyên vẹn những kiến trúc gốc từ thời Mozart và trước đó nữa. Người xem hoàn toàn bị chinh phục bởi các trang trí, các nội thất. Nếu như bạn biết rằng chiếc ghế của vua Áo thật sự là một cổ vật có một không hai hay các diễn viên đang thật sự diễn trên tấm thảm làm từ nhiều thế kỷ trước…Trong điện ảnh không có chỗ cho sự hời hợt và cẩu thả nếu ta muốn thật sự làm một “tác phẩm”. Và xuyên suốt tất cả những hình ảnh ấy là âm nhạc của Mozart được lựa chọn kỹ càng và phối hợp hài hoà một cách tài tình. Người xem được chìm đắm và ngây ngất trong một thế giới của những âm thanh diệu kỳ. Ta không nhận ra ngay sự có mặt của âm nhạc, đơn giản vì nó là “môi trường” của Amadeus, là yếu tố không thể thiếu được, ta ch
ỉ biết rằng mình đang bị chinh phục, bị lối cuốn. Nói về một nhạc sĩ thì không có gì hay hơn là dùng chính âm nhạc của ông để bộc bạch tâm hồn ông. Có lẽ ít khi người xem có dịp được tìm hiểu một tuyệt phẩm âm nhạc qua điện ảnh như thế. Trong Amadeus nội dung phim chỉ còn là minh hoạ, chính âm nhạc thần thánh của Mozart mới là “nhân vật” chính. Người xem cùng trăn trở với số phận long đong của nhạc sĩ rồi cùng bay bổng lên trong những nốt nhạc đầy tinh tế của ông.
Amadeus là một bộ phim của các xung đột trên tất cả mọi khía cạnh. Đó là mâu thuẫn giữa tuổi trẻ và khuôn thước được đại diện bởi Giáo Chủ. Đó là mâu thuẫn giữa định kiến và tự do. Một bên là các nhạc sĩ cung đình, một bên là chàng Mozart đầy tài năng. Mâu thuẫn giữa cha và con khi ông bố Leopold, người đã dành cả đời mình để nuôi dạy Mozart, muốn tiếp tục ép buộc chàng trai trẻ sống theo ý muốn của riêng mình. Điều ấy đã là không thể và sẽ còn luôn là một vấn đề lớn của nhân loại. Mâu thuẫn giữa đồng nghiệp mà Salieri là một minh hoạ tuyệt vời. Mâu thuẫn giữa nhu cầu tự do trong nghệ thuật và tiền bạc…ta có thể liệt kê ra đây thêm nhiều xung đột nữa nhưng theo NTL thì có hai vấn đề lớn nhất thuộc về bản chất và có tính bản lề cách mạng, đó là mâu thuẫn trong chính nội tâm của Salieri và sự đòi hỏi được tự do sáng tạo của Mozart.
Đam mê với âm nhạc và tìm tất cả mọi cách để đi tới nó, Salieri đã đặt một lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa để cầu mong cho những thành đạt của đời mình. Ông đã nguyện sẽ hiến dâng đời mình để sáng tác nhạc dâng lên Đấng tối cao nhưng bên cạnh đó Salieri lại muốn mình sẽ trở thành bất tử như Thiên Chúa. Hai điều này mâu thuẫn với nhau và không thể cùng tồn tại. Khi Salieri nhận ra khả năng hạn chế của mình trong nghệ thuật và nhất là khi ông phải đối mặt với một sự thật nghiệt ngã là Mozart lòng tin và niềm hy vọng vào phép mầu của Chúa trong ông đã sụp đổ. Cảnh Salieri ném cây Thánh giá vào lửa có một ý nghĩa rất lớn, trong một khía cạnh nào đó thì ông ta đã chọn Satan thay cho Chúa trời để phụng sự từ giây phút ấy. Thế nhưng Salieri là một người có hiểu biết và có khả năng cảm nhận âm nhạc rất cao, chứ không bị hạn chế như vua Áo. Ông khâm phục tài năng của Mozart, say mê âm nhạc của Mozart nhưng cũng biết cách sáng tác “phù hợp” với gu và khả năng thưởng thức của vua Áo. Yếu tố “chính khách” ở đây đóng một vai trò quan trọng. Ta có thể kết luận vấn đề này tuỳ theo quan điểm cá nhân nhưng Salieri đã thành công với một công chúng “giới hạn” và thất bại hoàn toàn trong nghệ thuật chân chính. Tự bản thân Salieri hiểu điều ấy.
Mozart thật sự là một nhà cách mạng theo đúng nghĩa đen của nó khi ông nắm lấy quyền chủ động sáng tác mà vở Opéra “Figaro” là một minh chứng. Không những ông đã dám vượt qua những rào cản chết người, vua Áo cấm trình diễn Figaro vì nội dung mâu thuẫn giai cấp của nó và bản thân em gái của ông – hoàng hậu Pháp Marie-Antoinette đã bị rơi đầu vì cách mạng Pháp, mà còn có tài năng để thuyết phục vua Áo. Mozart đã mạnh dạn phá bỏ các luật lệ trong âm nhạc, làm tất cả sửng sốt bởi cách tạo hợp ca trong liền 20 phút. Vẫn không một ai hiểu giá trị nghệ thuật của Mozart ngoài Salieri. Thời bấy giờ nhạc sĩ chỉ là một người viết nhạc thuê cho nhà giàu. Ví dụ như khi có sinh nhật cô con gái rượu, ông quý tộc sẽ gọi nhạc sĩ đến và nói rằng tôi muốn có một bản nhạc như thế này, thế kia…nói một cách khác là chỉ dẫn chính xác cần phải làm gì. Mozart không chấp nhận điều ấy, ông đấu tranh đòi hỏi quyền được tự do sáng tác và giá trị cho chính cá nhân nhạc sĩ – một chỗ đứng xứng đáng trong xã hội phong kiến châu Âu. Và Mozart đã phải trả giá rất đắt cho việc làm dũng cảm của mình. Không kiếm được việc làm trong giới quý tộc, chỉ sống bằng tiền công những tác phẩm nghệ thuật và lòng yêu mến của người dân thành Vienna, cuộc sống của Mozart gặp phải không ít khó khăn.
Chính những mâu thuẫn rất gắt gao này đã tạo nên nhịp sống của Amadeus, làm thành các cao trào của phim, đưa người xem từ cảm xúc này đến cảm xúc khác một cách thật tự nhiên. Có thể đôi lúc ta chỉ cảm thấy cuộc đấu tay đôi giữa Salieri và Mozart nhưng nhìn chung bộ phim đã dựng lại thành công hiện thực xã hội cùng những “khuôn khổ” của nó thời Mozart. Khán giả không chỉ còn là một người xem đơn thuần mà thật sự đã là một nhân chứng trong phim, cùng sống những phút giây vinh quang và cực nhọc của đời một thiên tài.
Có lẽ dạo diễn Milos Forman đã hơi quá mạnh tay khi dùng nghệ thuật tương phản tính cách để làm nổi bật Mozart trong khi Salieri lại thật sự không “xấu xa” đến như vậy trong lịch sử. Giả sử chúng ta ở trong hoàn cảnh ấy thì chắc cũng sẽ có những phản ứng tương tự để “bảo vệ” các quyền lợi của mình mà thôi. Giới hạn mong manh duy nhất giữ cho người ta biết dừng lại đúng lúc chỉ phụ thuộc vào mức độ “văn minh” của mỗi cá nhân. Salieri thật sự nham hiểm, thủ đoạn của ông ta không có gì mới nhưng cách thực hiện nó lại rất tinh vi và gây hậu quả nghiêm trọng. Xem Amadeus chắc bạn sẽ không thể nào quên được những cảnh phim ấn tượng với cao trào của các sự kiện mà NTL thích nhất cảnh Constanze mang bản thảo đến nhà Salieri để nhờ ông ta giúp chồng mình có được việc làm dạy nhạc cho cháu gái vua Áo. Salieri đã rất ngạc nhiên, ông ta thoạt tiên không hiểu lý do thật sự rồi sau đó nắm lại quyền chủ động (trong đoạn phim cắt bỏ có cảnh Salieri ép vợ Mozart phải ngủ với mình), một phần nào đó Salieri đã cảm thấy thoả mãn khi Mozart phải cầu cạnh mình.
Vợ của Mozart đang nhờ Salieri giúp chồng mình
Thế nhưng ông ta lại không nghĩ tới một điều khác khi cầm trên tay những trang bản thảo gốc của Mozart: những nốt nhạc ngay ngắn, không một dấu tẩy xoá. Vẻ đẹp của âm nhạc sáng bừng lên trên những trang giấy, nó là hiện hữu của một tài năng không gì sánh nổi, vượt rất xa ngay chính Salieri. Cú đâm ấy là định mệnh. Salieri bàng hoàng, choáng váng, không tin ở mắt mình nữa. Những trang giấy vương vãi trên sàn nhà và nhạc sĩ cung đình chết điếng người đứng trơ trơ. Từ giây phút ấy Salieri coi Mozart là kẻ thù của mình trong âm nhạc. Ông tự nguyền sẽ tìm mọi cách
để tiêu diệt Mozart. Khoảnh khắc ấy con quỷ trong Salieri đã lấn át phần người rất Thánh.
Nếu bạn đến với Amadeus để hy vọng nhìn thấy một “thánh nhân” Mozart thì có thể bạn sẽ hơi thất vọng khi bắt gặp những cảnh ăn chơi đàng điếm của Mozart. Đơn giản ông cũng là một nghệ sĩ như bao người khác và là một con người bình thường có nhu cầu sống như tất cả mọi người. Cách phản xử theo hình thức và định kiến là sai lầm. Rồi bạn thấy mình bị cuốn đi trong âm nhạc thần thánh của Mozart, nức nở với nó và quên đi tất cả. Mỗi vở Opéra của Mozart ít nhiều có cảm hứng từ những sự kiện đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trong cuộc đời ông. Và lại chỉ riêng Salieri nhìn thấy trong “Don Giovanini” hình ảnh Leopold trách móc cậu con trai không tuân lời và những lời sám hối của chính Mozart. Nước Áo thời ấy đã may mắn có được một vị vua yêu mến âm nhạc nhưng cũng chính những khả năng hạn chế trong cảm nhận âm nhạc của Joseph II đã là một định kiến nghiệt ngã với sáng tạo. Ông ta không đủ khả năng hiểu và cảm nhận Mozart. Vở Opéra Figaro của Mozart đã không thành công đơn giản cũng vì lẽ ấy. Nhưng Mozart không dừng lại. Nếu như người ta vẫn gọi ông là người đến từ hành tính khác thì sứ mệnh duy nhất của ông là sáng tác âm nhạc. Không nản chí vì những khó khăn vật chất, Mozart tiếp tục sáng tác. Hình ảnh nhạc sĩ viết nhạc ngay trên bàn billard là một minh họa rất thú vị về cuộc đời của ông.
Mozart không có chỗ đứng xứng đáng trong cung đình đơn giản vì ông chưa bao giờ là một “chính khách” khéo léo nhưng trái lại cung đình cũng không phải là một môi trường thích hợp với Mozart bởi những hạn chế của nó. Trong phim ta không hề cảm thấy Mozart tiếc nuối việc làm tại hoàng cung sau những thành công rực rỡ ban đầu. Công chúng đã đón nhận tài năng của Mozart với tấm lòng rộng mở. Ở Vienna, Mozart được mọi người yêu mến và âm nhạc của ông đã thật sự đi vào lòng người. Với một nhạc sĩ thì còn có gì tuyệt vời hơn thế?
Trước khi đến với cung đình Áo thì tài năng của Mozart đã bay đi rất xa, ngay cả chính Salieri cũng đã rất ngưỡng mộ thiên tài trẻ tuổi ấy. Hoàng cung đơn giản chỉ là một bước đệm, một thử nghiệm của Mozart với dòng nhạc “quý tộc” chứ nó chưa bao giờ có ảnh hưởng quan trọng tới cuộc đời sáng tác của ông. Bên cạnh một Mozart tài năng, tự tin đến ngạo mạn thì trong Amadeus ta còn gặp một Mozart khác biết phục thiện và rất độ lượng. Không phải ông không biết Salieri luôn tìm cách hãm hại mình nhưng trong buổi vua Áo trao giải thưởng cho Salieri, một trong những phần thưởng tối cao của hoàng gia, thì vượt ra ngoài tư duy hẹp hòi của Salieri, Mozart đã đến chúc mừng với tất cả sự chân thành trong nghệ thuật. Cũng từ đây cuộc đời của Mozart bắt đầu đi vào những bước ngoặt mới không kém phần đau khổ. Đôi khi người xem tự hỏi làm sao một tâm hồn phong phú và nhạy cảm đến nhường ấy lại có thể chung sống với một người đàn bà “tầm thường” và hoàn toàn “thực dụng” như Constanze? Cô ta chưa bao giờ thật sự hiểu công việc của chồng, điều quan tâm duy nhất chỉ là tiền nhuận bút. Hình như Mozart cũng không có nhu cầu chia xẻ về nghệ thuật với Constanze, hai con người ấy tự nhiên hài hòa với nhau một cách lạ kỳ trong cuộc sống. Một phần nào sự bình yên trong gia đình ấy cũng là một chỗ dựa tốt cho nhạc sĩ những lúc thiếu thốn về vật chất. Giã từ hoàng cung, Mozart đến với thế giới bình dân – một môi trường âm nhạc đại chúng, rộng hơn rất nhiều và ít khắt khe hơn. Đây mới chính là thế giới của ông với tự do đích thực và một công chúng có khả năng đón nhận những sáng tạo mới mẻ.
Mozart điều khiển ban nhạc cung đình
Phần cuối của phim ta có thể nhận thấy hai sự kiện chính: cái chết của người cha, Leopold, và sức khoẻ của Mozart đang cạn kiệt dần. Về mặt tinh thần thì Leopold đã luôn là một chỗ dựa, nơi mà Mozart có thể tìm thấy những lời khuyên bảo hay nói một cách khác là ông luôn tìm thấy sự che chở nơi Leopold. Cùng với sự ra đi của người cha Mozart chơi vơi và đau khổ tột cùng. Những cảm xúc ấy đã góp phần tạo nên tác phẩm nổi tiếng “Don Giovanni”. Amadeus không tìm cách lý giải hay phân tích âm nhạc của Mozart nhưng nó thật sự là một tiền đề rất thú vị, tạo cảm hứng cho những ai từ trước đến nay ít quan tâm đến nhạc cổ điển. Sau khi xem Amadeus không ít người tìm nghe nhạc Mozart để cảm thấy những điều kỳ diệu của những thế kỷ trước.
Trong những cảnh phim về cuối, Mozart luôn xuất hiện với bộ dạng xanh xao và chai rượu giải sầu thường trực. Sự túng thiếu và cả thói ăn chơi hoang phí sức khoẻ đang giết dần, giết mòn tài năng ấy. Nhưng Mozart cần đến chúng như một cách tự giải thoát khỏi những bức bách trong sáng tạo, tuyệt vọng tìm cách thoát ra khỏi chính mình, đi tìm một điều mà chỉ có Mozart biết, hay thậm chí chính ông cũng chưa biết. Sáng tạo. Cảm ơn thành phố Praha đã cho phép camera quay tự do 360° và tái tạo lại chính xác nhất khung cảnh xã hội thời đó, cho người xem tới gần hơn và hiểu nhiều hơn số phận kỳ lạ của một thiên tài. Một trong những sự kiện gây ấn tượng ma quái trong phim là cảnh một người giấu mặt trong trang phục hoá trang của Leopold đến nhà đặt Mozart viết bản nhạc cầu hồn Requiem. Bây giờ người ta đã biết được chính xác tên của nhà quý tộc giấu mặt ấy nhưng trong phim thì đó chính là Salieri với mục đích tìm mọi cách huỷ hoại không những về thể chất mà cả tâm hồn Mozart. Riêng mình Salieri đã tìm được điểm yếu của Mozart sau khi xem vở Don Giovanni và ông ta liên tục xoáy vào đó. Những sự kiện tiếp nối dồn dập, sự túng quẫn đã ép Mozart làm việc quá sức cộng thêm với niềm đam mê sáng tạo ngày càng đưa nhạc sĩ gần tới cái chết được dự báo trước. Đạo diễn Milos Forman đã khéo léo thay đổi một vài chi tiết trong lịch sử để đẩy mâu thuẫn trong phim lên tới đỉnh điểm, làm tỏa sáng hơn bao giờ hết tài năng của Mozart. Bạn có thể nói chi tiết khi Mozart nằm trên giường bệnh và Salieri đã không theo kịp những ý sáng tạo trong âm nhạc của Mozart là thái quá nhưng NTL nhìn thấy ở đây một thủ pháp nghệ thuật đơn thuần. Một cuộc so gươm theo đúng truyền thống thời bấy giờ về
tinh thần. Tất nhiên ta cũng nên biết rằng người chép những nốt nhạc cuối cùng này là một học trò của Mozart chứ không phải Salieri. Như thế cho đến tận phút cuối cùng Mozart đã hoàn toàn chinh phục Salieri bằng chính tài năng của mình. Salieri có thể hãm hại Mozart trên đường danh vọng hay có thể làm cho ông túng thiếu trong cuộc sống nhưng không bao giờ, không bao giờ Salieri có được tài năng âm nhạc như của Mozart. Thêm nữa nghệ thuật chân chính không cần danh vọng.
Ta cũng cần phải nói lời cảm ơn dành cho dàn nhạc giao hưởng danh tiếng “The Academy of St Martin in the Fields” đã thể hiện rất thành công các tác phẩm của Mozart cùng với các dàn đồng ca Ambrosian Opera Chorus, Academy of St Martin in the Fields Chorus, và The Choristers of Westminster Abbey. Nếu thiếu họ Amadeus đã không thể thành công. Cho đến từng khuôn hình cuối cùng người xem hoàn toàn mê đắm trong âm nhạc của Mozart và chính âm nhạc thần thánh ấy đã đưa tiễn nhạc sĩ ra đi hoàn toàn vô danh, trong một nghĩa trang công cộng, trong một ngôi mộ tập thể. Những lời kinh cầu vội vã, những chiếc xẻng vôi tạm bợ trong một ngày mưa tầm tã như muốn nhấn mạnh hơn cái “vô ngã” và làm nổi bật con người Mozart. Sự trở về muộn màng của Constanze và cậu con trai giống như kết thúc đẹp của một câu chuyện cổ tích, một sự an ủi tối hậu. Trong số những người đưa tiễn Mozart (chỉ tới cửa ô) ta có thể bắt gặp những khuôn mặt quen thuộc của hoàng gia, của bạn bè và của cô bé người hầu nức nở khóc một cách tuyệt vọng. Có lẽ cô mới là người thật sự hiểu giá trị con người của Mozart. Thiên Chúa đã chọn cách trả lời của riêng mình cho Salieri. Nếu như lúc đương thời vở “Axur” của ông ta đã được công diễn 100 lần, so với 5 lần của “Don Giovanni” và 9 lần cho “Marriage of Figaro”, thì ngày nay gần như không còn ai biết đến Salieri nữa. Bộ phim khép lại với cảnh Salieri hoàn toàn mất trí, được đẩy đi giữa đám người điên loạn cũng là một câu trả lời hay tuy rất kịch.
Trong mỗi con người chúng ta đều tồn tại một Salieri.
Riêng Mozart là duy nhất.
Wolfgang Amadeus Mozart!
(c) NguoiThangLong
Hồi ức một Geisha (Bình luận phim)
( 20/02/06 10:44 pm)
Nhân tiện bàn về bộ phim này (mình chưa xem) có liên quan tới những “đụng chạm” giữa Tàu và Nhật (mang nặng tính chính trị và cạnh tranh ảnh hưởng kinh tế) và việc Tàu cấm chiếu “Hồi ký nàng Geisha” ở TQ đồng thời “hạ nhục” hình ảnh Geisha xuống thành “gái điếm hạng sang”, ta hãy thử cùng nhau xem lại một góc văn hóa Nhật bản.
Điều đầu tiên cần biết là lịch sử Nhật bản cùng văn hóa của xứ Phù tang này rất đặc biệt. Năm ngoái, NTL có xem triển lãm tranh in giấy của Nhật. Phải thừa nhận rằng với tranh in từ khuôn khắc gỗ mà họ diễn tả mầu sắc trộn vào nhau, tinh tế đến từng sợi tóc, không mầu nào lem sang màu nào cả…từ mấy thế kỷ trước, thì dân mình cũng nên khiêm tốn khi tự tung hô tranh Đông Hồ một cách thái quá. Tranh đẹp và tinh xảo nhưng nội dung chủ đạo lại là chuyện…phòng the. Những ai từng ở Nhật, có tìm hiểu văn hóa nhật sẽ thấy chuyện này là…tự nhiên như…Nhật. Nghệ thuật “Geisha” đã được hình thành từ trong hoàn cảnh xã hội Nhật bản với tất cả các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật và cả những ham muốn tầm thường. Rất khó tách biệt rạch ròi những thứ này. Từ rất lâu, rất lâu nay người ta vẫn nhầm lẫn trong việc đánh đồng từ Geisha với “gái”. Chuyện con sâu bỏ rầu nồi canh là có nhưng có những thói quen hoàn toàn nhầm lẫn thì cũng nên bỏ. Ví như dân ta hơn nửa thế kỷ trước cứ thấy ai da trắng thì gọi tuốt là Tây, ví như dân Pháp đến tận TK 21 vẫn thấy ai da vàng thì gọi ráo là…Tàu! Không ai dám phủ nhận sự vĩ đại của VH TQ nhưng cũng không ai là không biết người Tàu di cư sống nhếch nhác như thế nào. Bên cạnh đó không hiếm các tài năng của TG là người TQ. Nói qua như vậy để cùng hiểu là không thể đánh giá một con người chỉ qua một vài hoàn cảnh, càng không thể đánh giá một nền văn hóa dựa trên những mâu thuẫn về chính trị. Anh Tàu hằn học với Geisha đâu có khác gì mấy anh Hồi giáo lấy cớ báo Đan Mạch vẽ biếm họa Nhà Tiên tri Mô-ha-mết để đập phá, hôi của??? Mà xét cho cùng mấy anh “In-ti-fa-đa” chẳng kêu gọi cảm tử quân chết cho Mô-ha-mết rồi lên thiên đàng sung sướng với…72 trinh nữ là gì??? Thêm nữa dân châu Âu vốn có truyền thống tự nhạo báng cả Chúa của họ lẫn hoàng thân, quốc thích từ lâu nay…
Quay lại với xứ hoa Anh đào. Geisha là một trong những tinh hoa của văn hóa Nhật bản cho dù đôi khi mục đích của nó bị người ta lợi dụng để làm việc xấu (giống như các quán “Quan Họ…ôm” ở VN không thể làm hỏng đi nghề hát được). Công phu tập luyện về kỹ năng biểu diễn cũng như giáo dục con người của Geisha là rất lớn. Không phải ai cũng có thể thành Geisha nếu chỉ “bắt chước” cái hình ma không hiểu ý tứ sâu xa bên trong. Từ trước khi bộ phim này được chiếu, NTL đã đọc trên Time (không nhớ số nào, khoảng tháng 1/06) bài bình luận “đặc biệt” về “Memoirs of a Geisha”. Dĩ nhiên là “mẹ hát con khen hay”, kiểu giải “Quả cầu vàng” xứ Mẽo. Họ có giải thích rằng phải chọn diễn viên TQ đóng người Nhật là vì diễn viên nữ của Nhật không có ai…giỏi bằng (?) NTL thấy buồn cười. Lý do thương mại lộ rõ ra đấy, mấy cô Tàu đang ăn khách thì cứ thế mà lôi ra đóng phim, ngán gì quốc tịch. Nhưng Geisha khác “Chicago” nhiều lắm về chiều sâu tâm hồn! Cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ do một chàng tốt nghiệp Havard viết về…nước Nhật, sự thành công của nó không khỏi làm ta liên tưởng tới “Da Vinci Code” (bộ phim này cũng đang được dựng với riêng tiền thuê bảo tàng Louvre để quay phim hết 1 triệu €). Anh chàng đạo diễn Mỹ cũng thuộc hạng chịu khó, đọc sách về Nhật, tập võ…Hàn quốc và làm phim. Dàn diễn viên Tàu không thể chê được về danh tiếng, các em được dạy cho nói…ngọng tiếng Anh để giống với giọng…Nhật! Sau bài phóng sự của Time, khán giả bất bình gửi thư phản đối, trong đó có câu “…chỉ riêng việc để diễn viên TQ đóng vai Geisha cũng đã đủ để không nên xem…”
Mới đây, bộ phim này được giải của BAFTAS (British Academy of Film and Television Arts) về Âm nhạc, Trang phục và Cinematography.
Thế giới thông tin đa chiều mà lại
Kể ra thì NTL cũng “tò mò” về bộ phim này, sẽ thử xem và bình luận hầu các bạn quan tâm.
***
Cuối cùng thì NTL cũng thu xếp được thời gian đi xem bộ phim này. Điều khiến mình quan tâm không phải vì cuốn sách “Best Seller” của Mỹ hay vì những quảng cáo, những giải thưởng…mà chính vì muốn biết cách nhìn nhận văn hoá Á-đông của người Mỹ ra sao? Sau “The last Samurai” thiết tưởng người Mỹ đã rút ra được một bài học bổ ích (?) về vấn đề này.
Bộ phim “Hồi ức một Geisha” có thể tóm gọn lại bằng những nhận định sau: phim có tham vọng, dàn dựng quy mô, kỹ thuật điện ảnh tốt, âm nhạc tuyệt vời và có tìm hiểu thật sự văn hoá Nhật bản. Nhưng bộ phim đã không đạt được tầm vóc mà có lẽ nó đã hy vọng hay ít ra là đã được báo chí thổi phồng lên ở Mỹ. Phim hay, hình ảnh đẹp nhưng thiếu cá tính và chiều sâu như tâm hồn Nhật bản. Giải thưởng về trang phục của BAFTAS là chính xác.
Vậy ta có thể nói gì về bộ phim dài 2h20min. này?
Bất chấp những chỉ trích về “quốc tịch” của các nữ diễn viên chính ta vẫn phải thừa nhận rằng sự lựa chọn của Rob Marshall là đúng đắn, đơn giản vì nếu giao vai diễn cho các diễn viên non tay nghề hơn thì bộ phim đã thật sự là một thất bại. Tuy nhiên điều này không hề chứng tỏ rằng diễn viên TQ giỏi hơn diễn viên Nhật bản. Diễn xuất của Zhang Ziyi, Gong Li, Michelle Yeoh đạt tới độ hoàn thiện và rất tính cách. Điều duy nhất có thể phàn nàn là các siêu sao châu Á này không có được cái thần của phụ nữ Nhật bản, ngay từ trong từng cử chỉ, biểu cảm nhỏ. Như vậy Geisha chỉ còn lại ở hình thức của bộ Kimono chứ chưa đạt tới chiều sâu tính cách Nhật. Mặc dù đạo diễn Rob Marshall đã bỏ ra 6 tuần để huấn luyện các nữ diễn viên “hành nghề” Geisha, chỉ đạo bởi Liza Dalby – người đã từng thực sự làm Geisha tại Nhật bản, nhưng ta có thể dễ dàng nhận thấy trong phim gần như vắng bóng các màn trình diễn đặc trưng và đặc biệt tinh tế của Geisha. Tới đây ta đặt ra một câu hỏi “Tại sao không mời một Geisha chuyên nghiệp Nhật bản đến huấn luyện diễn viên?” Câu trả lời tạm thời để ngỏ.
Như tên gọi của bộ phim, ta có thể hình dung phần nào cốt truyện của nó. Phim kể về cuộc đời của một Geisha chứ không chỉ tập trung vào
phân tích “nghệ thuật của Geisha”. Đây là một điều rất quan trọng mà bạn không được phép nhầm lẫn, nếu không sẽ dẫn tới sự thất vọng hoàn toàn. Nhưng muốn nói thế nào thì bộ phim cũng đã không lột tả được tính nghệ thuật chân thực và sâu sắc của nghề Geisha. Trái lại nó đã khá thành công khi tìm cách diễn tả những xung đột nội tâm, mâu thuẫn nghề nghiệp và những định kiến xã hội trải qua nhiều thời kỳ khác nhau của nước Nhật. Cụ thể là trước, trong và sau thế chiến thứ II. Ta có thể nói rằng bộ phim “Hồi ức một Geisha” là phim tâm lý xã hội, tình cảm…thậm trí có phần giải trí hơn là một bộ phim nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hoá.
Có lẽ phải đến 1/3 phim là dành để nói về xuất xứ của câu chuyện, về số phận không may mắn của cô bé nhà quê nghèo khổ Chiyo. Những cực nhọc, bất công mà cô phải trải qua là những chi tiết nền tảng quan trọng dẫn đến một quyết tâm quan trọng sau này nhưng người xem cảm thấy trường đoạn này quá lê thế, ôm đồm và chưa thật sự ấn tượng. Nó có vẻ như đã rời khỏi mạch chính của bộ phim quá xa.
Cô bé Chiyo và Geisha Hatsumomo
Nam diễn viên Nhật bản thật sự Ken Watanabe xuất hiện trong vai “ông chủ tịch” như một phép mầu nhiệm, nó gần với “ông Bụt” hơn là những may rủi ngẫu nhiên của cuộc sống. Sự hảo tâm của “ông chủ tịch” cũng có phần không “thật” và nặng tính bài trí đơn thuần của kịch bản. Và cô bé Chiyo đã để hết số tiền “đủ để ăn uống trong một tháng” vào một lời ước nguyện, gióng lên một tiếng chuông khát vọng.

(còn tiếp)
(c) NguoiThangLong
Hạt mưa rơi bao lâu (Bình luận phim)
(16/03/06 10:29 am)
Điều đầu tiên có thể nói về “Hạt mưa rơi bao lâu” chính là “cá tính” rất mạnh của nó. Cách làm phim tự do, phóng khoáng đã tạo cho bộ phim một dáng vẻ mới, ít nhiều thoát ra khỏi lối mòn trong tư duy sáng tạo và định kiến trong nghệ thuật của điện ảnh Việt nam. Thoát ra không đồng nghĩa với thành công. NTL ghi nhận nỗ lực này như một sự dũng cảm dám đối đầu với một thị trường điện ảnh yếu kém, một công chúng quá non nớt để có thể cảm nhận cái đẹp thật sự của nghệ thuật. Ta có thể nhận ngay ra chủ ý của những người sản xuất phim, họ không chỉ nhằm vào một bộ phim “tác phẩm” và đồng thời nhắm cả vào yếu tố “thị trường”. Một lối đi được định hướng đúng. Xem xong “Hạt mưa rơi bao lâu” ta có thể nhận thấy những nỗ lực rất lớn của nhóm làm phim trong việc tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật. NTL không quá quan trọng vào việc đạo diễn không phải chuyên nghiệp, diễn viên toàn là…hoạ sĩ… Điều quan trọng nhất của mỗi tác phẩm điện ảnh là giá trị nghệ thuật nội tại của chính nó và những cảm xúc để lại được trong lòng khán giả. Về phương diện này thì “Hạt mưa rơi bao lâu” lại chưa thành công. Không có gì để nói lời “đáng tiếc” cả, đơn giản vì trong phim có quá nhiều “lỗi” về kỹ thuật cũng như thủ pháp nghệ thuật tạo hình.
Qua cách làm phim của đạo diễn Đoàn Minh Phượng ta có thể hoàn toàn đoán được rằng chị không có ý dựng lại câu chuyện tình của Lý An trong một bối cảnh xã hội, một thời gian cụ thể nào cả. Suốt cả chiều dài bộ phim ta không hề tìm thấy bất cứ một chi tiết nào cho phép xác định thời điểm chính xác đã xảy ra câu chuyện. Tất cả chỉ là cái cớ, chỉ là những hình ảnh mang tính tượng trưng. Không gian và quần chúng xuất hiện như một chi tiết phông nền cần thiết cho chủ thể của một bức tranh lớn. Ngay cả bản thân Lý An cũng mang tính hình tượng nhiều hơn là một nhân vật cụ thể. Ngay từ đầu phim ta đã cảm thấy tính vô thực của câu chuyện, chất tiêu dao có chủ ý rõ ràng. Qua các trang phục của diễn viên ta biết được rằng xã hội thời đó rất xa xưa so với hiện tại. Nhưng cũng chính tại đây ta gặp lại một vấn đề rất “ấu trĩ” của điện ảnh Việt nam: trang phục của tất cả các vai đều mới tinh, kiểu dáng nửa hiện đại như thời trang năm 2006, nửa quê mùa nhưng lại không giống. Những manh áo vá quá hoàn hảo và vị trí của các miếng vá cũng có chủ ý tạo hình rõ ràng trên một nền vải rất sang đã làm biến dạng hình ảnh người nông dân Việt nam. Tông mầu đều như…đồng phục và lạc lõng khiến ta có cảm giác như đang xem một vở kịch lớn được dàn dựng ngoài trời bởi một đạo diễn xoàng. Đi kèm theo trang phục là cách hoá trang rất giả, dường như đạo diễn chỉ quan tâm tới làm đỏm cho diễn viên mà quên mất tính chất vai diễn của họ? Như vậy từ Lý An cho tới lũ trẻ con nhà quê đều lịch lãm và bóng bẩy như…hề. Cho dù giả thuyết “hình tượng” mà NTL đã đề cập ở trên là đúng thì ta cũng không thể lạm dụng nó để muốn làm gì tuỳ thích. Sự phản cảm xuất phát từ kém cỏi trong thiết kế trang phục và hoá trang đã xuất hiện ngay từ những thước phim đầu tiên. Làm sao ta có thể hình dung một cậu bé nhỏ sau 2 năm lang thang dặm trường lại đến gõ cửa chùa trong một bộ quần áo sạch như vừa mới được “giặt khô là hơi”, không chút bụi đường, cộng thêm chiếc khăn vấn đầu mầu trắng tinh đến mức khôi hài. Trên gương mặt được đánh phấn nền nhẵn thín ấy không hề có một chút dấu vết của hành trình vất vả và ngay đến cả một hạt mồ hôi cũng không có nốt. Lời thoại ngây ngô và sáo rỗng từ đầu phim được tiếp tục cho tới tận phút chót. Thật khó có thể hình dung một bộ phim được làm bởi các “nghệ sĩ” lại kém cỏi đến thế.
Đạo diễn và trong nhóm làm phim có rất nhiều hoạ sĩ, chính vì thế mà “Hạt mưa rơi bao lâu” mang hơi hướng của một bức tranh…siêu thực có tổng hoà của những chi tiết…vô thực. Mỗi một hình ảnh đều được tính toán, thiết kế cẩn thận nhưng góc quay lại quá yếu. Ta có cảm giác như đang xem một bộ phim tư liệu nghiệp dư. Các khuôn hình nối tiếp nhau như những nét cọ vẽ liên tiếp đầy chủ ý nhưng đạo diễn đã không làm sao giấu nổi sự rời rạc và hụt hẫng của nhiều cảnh quay. Và âm nhạc tắc nghẹn, bị cắt cụt một cách vô lý càng tăng thêm cảm giác chán chường. Xin chị Phượng giải thích cách thể hiện này cho khán giả.
Khi nói về “Hạt mưa rơi bao lâu” nhiều bình luận đã ngợi khen chất lượng của hình ảnh trong phim. NTL thì trái lại, cảm thấy bộ phim tham lam quá nhiều chi tiết, muốn thể hiện trong một cảnh quay nhỏ quá nhiều phong cách phan trộn (bố cục hội họa, sắp đặt…) nên rốt cục chúng chỉ còn lại như những phác thảo không thành công. Ngay cả những hình ảnh “đẹp nhất” trong phim cũng gợi cho ta cảm giác đã xem ở đâu đó rồi. Hoàn toàn thiếu sáng tạo và không độc đáo. Ánh sáng trong phim cũng không đẹp, nó thể hiện rõ tay nghề “nghiệp dư” của nhóm làm phim.
Kết cấu của câu chuyện lộn xộn và rời rạc. Bản thân nội dung của nó đã không có gì mới và chả cần xem hết phim khán giả cũng có thể đoán truớc được kết thúc và cách xử lý. Sau hơn 30 phút khởi đầu ta bắt đâù cảm thấy sốt ruột vì tốc độ chậm lê thê của phim đồng thời nhàm chán với những bối cảnh tương tự được lặp đi lặp lại. Âm nhạc “lộc cộc” như tiếng bánh xe ngựa của gánh hát trên đường quê.
Đến đây bạn có thể kêu lên rằng NTL quá…khó tính! Nhưng nghệ thuật là nghệ thuật và một bộ phim cho dù có được dàn dựng bởi ai đi chăng nữa thì nó cũng chịu sự đánh giá khách quan và công bằng của giới phê bình nghệ thuật chân chính. Trước khi đi xem “Hạt mưa rơi bao lâu” NTL đã hoàn toàn không đọc các bình luận (cũng như quảng cáo) về bộ phim, thậm chí ngay cả nội dung sơ lược của phim cũng không biết nốt. Buổi chiếu lúc 21h00 ngày 15/3/2006 đã thu hút được một số đông khán giả (chiếm khoảng gần một nửa số ghế của phòng chiếu phim lớn tại Trung tâm nghệ thuật thành phố Créteil) bao gồm người Pháp và Việt. NTL đã có cảm giác hồi hộp thích thú khi chờ xem bộ phim này.
Bây giờ chúng mình sẽ cùng nhau bàn về diễn xuất của các vai chính. Cảm giác chung là không đạt và gượng gạo. Dáng đỏng đảnh của Trương Ngọc Ánh thoạt đầu khá hợp với vai Lý An mới lớn nhưng cô lại toát lên một vẻ “san
g trọng” không thể nào có được nơi góc làng hẻo lánh ấy. Về sau, cùng với sự phát triển của nội dung câu chuyện thì Lý An lại hoàn toàn thiếu cá tính mặc dù tất cả các hành động của cô rất…cá tính. Ta có thể thấy ngay Trương Ngọc Ánh bối rối, không biết cách xử lý nhân vật. Đạo diễn cũng chưa đủ mạnh để hướng dẫn diễn viên nghiệp dư. Ở đây NTL xin được trích ngang để nói về một vấn đề rất lớn của điện ảnh VN, đó là cứ hễ thấy hoa khôi là kéo vào đóng phim, chỉ vì…đẹp! Phim của nước ngoài có nhiều vai diễn hoàn toàn do nghiệp dư đảm nhiệm nhưng khả năng chỉ đạo của đạo diễn tốt nên rất thành công.
Trong “Hạt mưa rơi bao lâu” có xuất hiện vài diễn viên gạo cội, những người đã thể hiện rất thành công cùng nhau trong “Mùa hè chiều thẳng đứng” như Như Quỳnh…nhưng vai diễn của họ quá hạn chế để có thể làm một chút gì đó “cứu” lại bộ phim. Cùng với sự xuất hiện của các nhân vật mới, người xem càng cảm thấy sự gượng gạo tăng lên. Ví dụ như anh chơi đàn trong gánh hát có bộ mặt ngây ngô với hàng ria mép rất rởm. Cô đào hát vô duyên. Ông bố giả ốm ăn mặc như “Cái bang” trong chưởng Kim Dung! Đạo diễn đã hoàn toàn không thành công với ngôn ngữ điện ảnh. Các hình ảnh và tình tiết câu chuyện nhạt đến mức ta có cảm giác phải thêm lời bình vào phía bên dưới, kiểu như “đoạn này tang thương lắm đấy, ông bố ốm nặng mà nhà nghèo…” ??? Trong suốt cả mấy tiếng xem phim, không có một đoạn diễn xuất nào khả dĩ, coi là tạm ổn. Nếu như NTL hoàn toàn hiểu chủ ý của đạo diễn khi cho cánh “chức sắc” trong làng ăn mặc như một lũ dở hơi thì không có một lý do “nghệ thuật” hay “thị trường” nào có thể biện minh cho cách “thể hiện” thân hình của Lý An một cách rẻ tiền cả. Ta luôn thấy Lý An “hở” một cái gì đó, ngay cả trong cảnh sắp bị làng bỏ lên vó bè cho trôi sông thì Lý An vẫn phải tranh thủ khoe cặp đùi lấp ló trong một kiểu trang phục nửa “ăn mày”, nửa…phòng the! Xin dành đôi lời cho “nhà thiết kế thời trang” đã tham gia phần trang phục trong phim: cái mốt áo lửng lơ “cánh dế” ấy là thế nào? tạo sao cả làng mặc cùng một kiểu cho dù chi tiết có khác nhau? Tại sao dân làng nghèo mà quần áo đẹp như…may bằng lụa đũi? Ngay đến cả cảnh sống giữa rừng hoang mà quần áo vẫn thời trang như…phố huyện?
Kỹ thuật dựng cảnh và trang trí cũng có nhiều điều đáng để phàn nàn. Khán giả gặp rất nhiều cảnh quay “tạm bợ” với hình ảnh một nếp nhà xiêu vẹo, cũ kỹ nhưng lại chả nói lên được cái gì cả. Những khi nào họa sĩ trang trí trau chuốt thì y như rằng cảnh trí trở nên rởm rít. Ví dụ như cảnh ngồi hát trên cầu đá, ý tưởng thì lãng mạn nhưng cái trò trang trí bằng mẹt và vẽ chân dung của cô đào hát hoàn toàn không hợp chút nào với bối cảnh xã hội thời ấy. Nó hiện đại kiểu “hại điện” và thể hiện khả năng sáng tạo quá hạn chế. Có lẽ đạo diễn chỉ quan tâm tới đoạn thả mẹt xuống ao, quay khéo cho hình ảnh đẹp mà bất chấp cả nội dung??? Cô đào hát mặc một chiếc váy đuôi công vừa xấu vừa lạc lõng!
Như NTL đã nói ở trên, trong phim có chủ ý sử dụng nghệ thuật sắp đặt (!) nhưng sự yếu kém trong kỹ thuật lẫn ý tưởng nghệ thuật đã khiến cho những cảnh tang thương trở nên đẹp đẽ một cách hài hước. Trong phim có khá nhiều cao trào nhưng hầu hết người xem đều đoán được trước và…thờ ơ.
Phần kết chiếm một trường đoạn khá dài và nó là một trong những nội dung quan trọng của “Hạt mưa rơi bao lâu” nhưng hiệu quả mà nó tạo cho người xem là nhàm chán, cảm thấy phí thời gian ngồi trong rạp. Đạo diễn đã đầu tư khá nhiều công sức vào phần cuối phim để dựng nên những hình ảnh đẹp, trống rỗng mà nhiều khi ta có cảm giác chúng được “copy” từ đâu đó. Việc Lý An sống chung cùng một lúc với cả 3 người đàn ông đã không được xử lý tốt nên hình ảnh của cô lúc cuối phim đã thật sự là một “nạn nhân” của những hủ tục, những định kiến và của chính mình. NTL không hiểu lý do tại sao đạo diễn “bắt” (?) Lý An ngồi xổm bẻ ngô, tênh hênh thẳng trước ống kính? Ta không cảm thấy sự hoang dã hay “quyến rũ” mà chỉ cảm thấy rẻ tiền. Rốt cuộc nội dung của phim còn lại là mâu thuẫn của 3 gã trai trẻ tranh nhau ngủ với một người đàn bà sa cơ, lỡ vận. Cái chết của Lý An cho dù dưới hình thức vô lý nhất là đuối sức, hay “tự tử” đi chăng nữa cũng đã diễn ra vô cùng nhạt nhẽo. Có vẻ như đạo diễn chỉ “tâm đắc” với cảnh con thuyền trôi vào góc màn hình (quá cổ điển nếu không nói là cổ lỗ trong điện ảnh) được lặp đi lặp lại nhiều lần, phát chán.
Còn rất nhiều sự kém cỏi nữa có thể kể ra nhưng liệu chúng có giúp người xem hiểu thêm “giá trị” của bộ phim nữa không? NTL thiết nghĩ là chúng ta nên dừng tại đây. Một lần nữa NTL xin được hoan nghênh tinh thần tìm tòi, đổi mới của “Hạt mưa rơi bao lâu” nhưng để đạt tới một tác phẩm điện ảnh thật sự thì đạo diễn và nhóm làm phim cần thêm rất nhiều hiểu biết về kỹ thuật và nghệ thuật nói chung.
(c) NguoiThangLong
My Life Without Me – Mi Vida Sin Mí (Bình luận phim)
( 04/01/04 2:09 am)
Mi Vida Sin Mí – My Life without me
Sony Pictures Classics
Dựa theo tiểu thuyết “PRETENDING THE BED IS A RAFT”
Đạo diễn, Biên kịch: Isabel Coixet
Diễn viên: Sarah Polley, Scott Speedman, Deborah Harry, Mark Ruffalo, Leonor Watling, Amanda Plummer, Julian Richings, và Alfred Molina
Phim hợp tác Tây ban nha – Canada, dài 106 phút. Tiếng Anh.
Các vai chính:
Sarah Polley …. Ann
Scott Speedman …. Don (chồng của Ann)
Deborah Harry …. Mẹ của Ann
Mark Ruffalo …. Lee
Leonor Watling …. Ann (cô hàng xóm trùng tên)
Amanda Plummer …. Laurie
Julian Richings …. Bác sĩ Thompson
Maria de Medeiros …. Cô thợ làm đầu
Jessica Amlee …. Penny (con gái của Ann và Don)
Kenya Jo Kennedy …. Patsy (con gái của Ann và Don)
Alfred Molina …. Bố của Ann
Sonja Bennett …. Sarah
Một bộ phim với nội dung hoàn toàn “cổ điển”, cảnh quay đơn giản, âm thanh không thật sự gây ấn tượng. Không có những tình huống “ly kỳ”. Và các diễn viên cũng không hề “lỗng lẫy”. Một bộ phim giản dị như cuộc đời của mỗi chúng ta mà gây xúc động không ngờ!
Có chút gì đó khiến tôi liên tưởng tới những lời mở đầu của “Love Story”: “Biết nói gì về một người con gái 23 tuổi khi nàng đã chết. Nói rằng nàng xinh đẹp, thông minh…” Đó là khi bác sĩ Thompson thú nhận với Ann rằng ông không thể nhìn thẳng vào người đối diện để nói rằng anh ta sẽ chết trong một ngày sắp tới! Người con gái ấy cũng vừa 23 tuổi, hay nói chính xác hơn thì đến tháng 12 này nàng sẽ tròn 23 tuổi. Tất cả còn đang ở phía trước. Tất cả sẽ phải dừng lại. Đớn đau.
Có điều gì khủng khiếp hơn khi biết trước mình sẽ từ giã cõi đời này, từ giã những người thân yêu nhất: Don-người chồng trẻ hiền lành và chịu khó, hai cô con gái xinh như thiên thần Penny và Pasty…; chỉ trong vài tháng tới. Cú đánh của số phận quá nghiệt ngã rơi xuống trên vai người con gái nhỏ bé. Ann không muốn tin vào điều ấy mặc dù cô biết rằng đó là sự thật. Cảnh phim chậm lại, ngơ ngác…và những dòng nước mắt lăn dài trên gò má Ann, một cái nhìn vô định rơi vào hư vô.
Một chút vị ngọt của cuộc đời như chiếc kẹo gừng đến từ tay người bác sĩ lúc này mới quý giá làm sao. Có lẽ tất cả hay hầu như tất cả chúng ta đều dễ dàng để cho cuộc đời cuốn đi trong những lo toan vất vả đời thường để rồi đến khi phải từ giã nó thì mới chợt nhận ra hình như mình chưa thật sự sống cho chính mình và những người xung quanh? Hình như ta chỉ là người khách đứng bên cạnh dòng đời của chính ta? Chỉ riêng tên của bộ phim đã vô cùng có ý nghĩa “Ma vie sans moi”. Chiếc kẹo “cuộc đời” ấy quá ngon nhưng ông bác sĩ già bối rối thú nhận rằng đó chính là chiếc kẹo cuối cùng. Và những lời hứa dù có chân thành vẫn chỉ là những gì sẽ đến của một ngày mai.
Ann đã chọn cách không báo tin buồn ấy cho gia đình. Cô muốn dành món quà cuối cùng của mình cho những người thân yêu nhất. Cô không muốn để lại những ký ức đau buồn trong tâm khảm của hai người con gái nhỏ. Cô dũng cảm chấp nhận cái chết, đối diện với nó và quyết tâm làm chủ những tháng ngày đẹp đẽ còn lại của mình. Một nghị lực phi thường mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Như thế Ann viết trong sổ tay của mình “Things to do before I die”…
Vào cái khoảnh khắc cuối cùng ấy niềm khao khát được sống thật sự với chính những đam mê của mình trào lên mãnh liệt hơn bao giờ hết trong Ann. Chưa bao giờ mình xem một bộ phim kể về chuyện “ngoại tình” mà lại trong trắng và không hề gợn tỳ vết đến như vậy. Cuộc gặp gỡ tình cờ với Lee là cái cớ để Ann thực hiện một ước nguyện của mình: xem cảm giác với một người đàn ông khác chồng mình sẽ như thế nào? Một khao khát rất con người. Khi cô bé Ann ấy chỉ biết đến một người đàn ông đầu tiên và duy nhất, Don, rồi có con từ năm 17 tuổi; ta không thể nghi ngờ tinh yêu và lòng chung thuỷ của nàng. Không chút mảy may. Và ta cũng sẽ không bao giờ có cái cơ hội ấy.
Xem cảnh Lee ngắm Ann ngủ thiếp đi trong cửa hàng giặt quần áo tự động mình cứ liên tưởng tới Alphonse Daudet với câu chuyện chàng chăn cừu xứ Provence và những vì sao…
Người con gái ấy không hề bận tâm về cái chết sắp tới của chính mình. Cô dành tất cả sức lực và tâm huyết vào những cuốn băng cát-xét chúc mừng sinh nhật con, những ngày sinh nhật mà nàng sẽ không bao giờ được dự. Cho dến năm Pasty 18 tuổi. Thật cảm động đến nghẹn ngào khi nghe Ann rưng rưng đọc những lời âu yếm ấy cho các con. Những kinh nghiệm cuộc đời vẫn còn quá ít ỏi của một người con gái mới 23. Nàng đã không căn dặn gì các con về chuyện tình yêu bởi vì “chính mẹ đã có con ra đời vào năm 17 tuổi”.
Và cuộc đời vẫn không ngừng trôi. Vẫn những xung khắc giữa Ann và bà mẹ già, vẫn câu chuyện ăn kiêng của một cô đồng nghiệp, nỗi buồn lẩn khuất đâu đây về một người cha trong tù từ hơn 10 năm nay…Trong những của hàng vẫn luôn đông khách, Ann chợt nhận ra rằng những như yếu phẩm mà con người ta dùng để duy trì vào kéo dài sự sống giờ đây trở nên vô ích với cô. Những thứ mà cô từng khao khát muốn mua với túi tiền của một người lao động nghèo không đủ, giờ đây chúng không còn là điều cần thiết nữa.
Thế nhưng chính vào lúc đó Ann lại muốn thay đổi kiểu tóc của mình, muốn có những móng tay dài điệu đàng mà nghề lao công của cô đã làm chúng cụt lủn. Hơn tất cả, cô muốn gây dựng một gia đình tương lai thật hạnh phúc cho Don va những đứa con. Niềm khát vọng tưởng chừng không thể có ấy.
Ann muốn Don sẽ có một người vợ hiền và thương yêu Panny, Pasty. Ann muốn hai cô con gái sẽ yêu quý người mẹ kế dù rằng không thể giống mẹ đẻ. Ann muốn mẹ của mình tìm được một người bạn đời mới, thoát khỏi nối cô đơn luôn ám ảnh thườ
ng trực. Ann muốn đem lại niềm vui cho một người cha tội lỗi. Ann muốn rằng sự ra đi của mình sẽ không để lại vết thương trong lòng những người thân yêu. Ann muôn tất cả hạnh phúc. Trong khi ấy một mình cô đơn với căn bệnh quái ác ngày đêm dày vò.Không một lời thở than, trách móc cuộc đời.
Trong mối quan hệ với Lee, ta chỉ nhìn thấy một khát khao sống vô cùng mãnh liệt trào dâng. Không hề xác thịt. Ann sắp ra đi nhưng sự có mặt của cô lại vô cùng đúng lúc và cần thiết với Lee – một người khoẻ mạnh mà tâm hồn dường như đã chết, sau những cú sốc của cuộc đời.
Như thế Ann đã làm hồi sinh lại chàng Lee thất tình, chán đời bằng những ngày cuối cùng tuyệt đẹp của cuộc đời mình. Cả hai cùng tìm thấy một tình yêu chân thành vào giây phút nghiệt ngã của cuộc đời khi Ann đổ bệnh. Một cuộc chia tay không giống như các cuộc chia tay khác. Một người đi về cõi vĩnh hằng và một người tiếp tục cuộc đời với một tình yêu cuộc sống cháy sáng trong tim.
Không phải lúc nào ta cũng làm được những điều mong ước thế nhưng lần này thì cuộc đời đã mỉm cười với ước nguyện của Ann khi gửi đến cho nàng một người hàng xóm tốt bụng yêu trẻ và cũng tên là Ann. Như thế sứ mệnh cuối cùng của nàng đã hoàn tất kể cả trong bữa liên hoan cuối cùng ấy cô chỉ nằm trên giường bệnh và hạnh phúc lắng nghe tiếng cười đùa của con trẻ với người hàng xóm của mình. Và mỉm cười.
Màn hình trắng tinh một màu trắng vĩnh hằng. Có một trái tim vừa ra đi. Và có cả một tấm lòng ở lại. Ta không hề thấy cảnh Don đau khổ, ta chỉ thấy một ngày nắng đẹp bên Penny, Pasty và Ann – cô hàng xóm, người vợ hiền. Ann đã muốn như thế trong những lời dặn dò cuối cùng cho Don, nàng muốn Don sẽ xây cho mình một thiên đường hạnh phúc. Và chàng đã giữ lời hứa ấy.
Trong trái tim Don sẽ mãi vẫn ngọt ngào là môt đêm nhạc cuối cùng của ban Niravana khi chàng cởi chiếc áo phông của mình đưa cho cô bé Ann lau nước mắt…
Và Lee sơn lại căn phòng của mình như mong muốn của Ann. Tình yêu tuyệt đẹp ấy không bao giờ ra đi, nàng vẫn luôn ở đâu đó quanh đây, sưởi ấm trái tim khô cằn của Lee, cho một ngày mai tốt đẹp hơn.
Người bác sĩ già trân trọng xếp lại những lời nguyện cầu hạnh phúc của Ann trên giá sách. Nàng sẽ có một cuộc đời như mong ước khi luôn tìm cách mang lại hạnh phúc cho mọi người, ngay cả khi mình không còn có mặt nữa. Như thế không phải trong cuộc đời vắng em mà em vẫn luôn có mặt trong đời. Như câu hát thì thầm thật khẽ, những câu hát không bao giờ đúng nhạc nhưng lại chứa đựng cả một tinh yêu mênh mông “…chỉ có Chúa trời mới biết được rằng em sẽ ra sao nếu như không có anh…”
Thất Kiếm hay thất vọng? (Bình luận phim)
(01/12/05 5:51 pm)
Ở VN chắc các bạn hẳn đều đã xem qua bộ phim “Thất Kiếm” ( Seven Swords) của đạo diễn TQ Tsui Hark. Tại Pháp, nó mới được khởi chiếu tối hôm qua, sau một chiến dịch quảng cáo khá rầm rộ. Từ khoảng 5 năm trở lại đây, người châu Âu thật sự quan tâm tới VH Á-đông và chuộng phim châu Á. Họ rất ngưỡng mộ những phim như “In the Mood fof Love”, “Hero” hay chùm phim của Trần Anh Hùng, Việt Linh…Bên cạnh đó thì dĩ nhiên cũng có những phim không để lại tiếng tăm gì thậm chí ngay cả khí Jet Li có tham gia diễn xuất.
NTL không hề “thất vọng” về bộ phim “Thất kiếm” bởi vì cũng chưa bao giờ “kỳ vọng” ở nó cả. Đi xem vì tò mò là chính.
Điều có thể dễ dàng nhận thấy ngay từ đầu là bộ phim được dàn dựng khá công phu và mỗi cảnh quay lại làm ta liên tưởng tới một bức tranh Tàu nào đó trong các truyện tranh…Yếu tố thẩm mỹ này đã được duy trì cho tới tận phút cuối cùng của phim.
Điều làm cho NTL bị “sốc” đầu tiên là cảnh băng đảng cướp ăn mặc như trong phim “Chúa tể của chiếc nhẫn”. Các giáp phục, vũ khí và đặc biệt là nữ tướng cướp với mái tóc cạo trọc một bên…Ta hãy xem lại hình ảnh trong phim “Le Seigneur des anneaux”
Ngay cả cách thể hiện sự tàn bạo cũng hoàn toàn “copy” nếu so sánh nó vẫn với bộ phim trên:
Bản thân nội dung câu chuyện đã không có gì đặc biệt và cách làm phim rời rạc lại càng làm cho bộ phim mất dần đi tính hấp dẫn. Ở Thất Kiếm ta gặp lại một số diễn viên quen thuộc, người Hàn Quốc, đã đóng phim “Musa, Công chúa sa mạc”
Diễn xuất thiêu sáng tạo, ta có thể nhận ngay ra cách diễn của mấy năm về trước.
Hình ảnh của Thất Kiếm có những lúc khá đẹp nhưng nhàm vì ta luôn cảm thấy như đã gặp ở đâu đó. Ví dụ so sánh với phim “Musa, Công chúa sa mạc”:
Thất Kiếm
Ngay cả tình tiết câu chuyện cũng được nhặt lại từ phim “Musa…” với các nhân vật người Hàn quốc lưu lạc bên Tầu, võ công thâm hậu…Cảnh bách tính bị tàn sát không thương tiếc cũng giống như trong “Musa”…Việc tạo tương phản tích cách nhân vật chính và phản diện cũng không thành công. NTL có đôi lúc thấy tên tướng cướp rất dễ chịu
còn mấy anh hùng nông dân rất ngớ ngẩn và ngu ngu…???
Khó có thể xếp Thất Kiếm vào dạng phim nào?
Nó không hẳn là phim “kinh dị” mặc dù cách hoá trang nhân vật và trang trí cảnh là kinh dị.
Nó cũng không hẳn là phim võ thuật vì võ nghệ trong phim quá xoàng, toàn thấy dây treo kéo người bay như…trong các phim trước đó.
Nó cũng không là phim “Rambo” vì mức độ huỷ diệt chưa đủ cao.
Nó càng không là phim “dã sử” mà ngay chuyện nghĩ đến việc này đã quá báng bổ!
Cuối cùng thì nó cũng không là phim giải trí vì sau khi xem xong khán giả cảm thấy nặng nề và khó chịu, nếu không nói là lãng xẹt.
Âm nhạc trong phim đơn điệu, tẻ nhạt đến mức ru ngủ ngay cả những trường đoạn gay cấn nhất. Ưu điểm duy nhất là bản phim copy mà NTL xem không bị…xước
Thế “Thất kiếm” dành cho tần lớp khán giả nào?
Theo NTL thì nó thích hợp cho lứa tuổi 15-17, ham truyện chưởng
Ôi, Thất thất…
(c) NguoiThangLong
1 comment